vanban.org

Bản án 20/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 04/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Quốc A,

Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc ANh - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Quốc A,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HS-PT
Ngày 04 tháng 3 năm 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Nghĩa

Ông Trần Anh Khoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 217/2019/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo Trần Quốc A do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 307/2019/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh K.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Quốc A, sinh năm 1981 tại K; Nơi cư trú: 02 Hồng Bàng, phường P, tp. N, tỉnh K; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:12/12; Cha: Trần Minh S, sinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ L1; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc A là nhân viên phát triển thị trường tại tỉnh K của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk, địa chỉ: Tầng 17, số 12 đường TT, phường TP, Quận B, thành phố CM. Trần Quốc A ký hợp đồng làm việc từ tháng 6 năm 2018, với nhiệm vụ là khi các đại lý bán hàng điện tử trên địa bàn tỉnh K có nhu cầu đặt hàng thì A sẽ thông báo cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk, thông qua nhân viên quản lý kinh doanh thị trường là anh Diệp K, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1982, cư trú tại số 254/258 đường THD, phường M, Quận N, thành phố CM để xuất hàng đến các đại lý. Theo quy định của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk thì Trần Quốc A không được phép đặt hàng cho cá nhân.

Do cần tiền sử dụng cho bản thân, Trần Quốc A nảy sinh ý định nói dối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk là CTTNHH NPNVM, địa chỉ: số 127 đường Nguyễn Trãi, phường P, thành phố N, tỉnh K là đại lý chính thức của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk tại tỉnh K có đơn đặt hàng để Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk chuyển hàng ra, rồi chiếm đoạt số hàng này, sau đó bán lại cho các cửa hàng điện tử khác lấy tiền.

Vào sáng ngày 28 tháng 8 năm 2018, Trần Quốc A gọi điện thoại di động cho anh Diệp K thông qua phần mềm ứng dụng kết nối trực tiếp các thành viên kinh doanh có tên “QQ” nói dối là CTTNHH NPNVM đặt đơn hàng với số lượng hai Ti vi Led Skyworth 32E2A12G; một Ti vi mẫu Led Skyworth 32E2A12G; hai Ti vi Led Skyworth 43U5 và một Tivi mẫu Led Skyworth 43U5 với tổng giá trị đơn hàng là 30.127.999 đồng và nhờ anh L hỗ trợ giá, in đơn đặt hàng. Vì tin tưởng Trần Quốc A và tin rằng CTTNHH NPNVM đặt hàng nên anh L tiến hành lập đơn đặt hàng rồi xuất hàng theo yêu cầu của Trần Quốc A đến CTTNHH NPNVM.

Đến ngày 05 tháng 9 năm 2018, lô hàng được chuyển đến CTTNHH NPNVM. Do không đặt hàng nên CTTNHH NPNVM liên lạc với Trần Quốc A để Trần Quốc A nhận hàng. Sau khi có được hàng, Trần Quốc A đem 06 ti vi nói trên bán cho Nguyễn Khắc H là Giám đốc Cty HT, địa chỉ: Lô 41 Khu Kho cảng Bình Tân, phường VN, thành phố N, nay là số 191 đường Dã Tượng, phường VN, thành phố N với giá 30.000.000 đồng. Số tiền trên, Trần Quốc A đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.

Sau khi xuất hàng và đến ngày thanh toán (30 ngày sau khi xuất hàng), Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk yêu cầu CTTNHH NPNVM thanh toán tiền thì được biết CTTNHH NPNVM không đặt hàng và không nhận hàng mà là do Trần Quốc A tự đặt hàng và đã nhận hàng. Lúc này, Công ty trách nhiệm hữu hạn Skyworth liên hệ với Trần Quốc A để thanh toán nhưng Trần Quốc A không có mặt tại địa phương và không thanh toán tiền hàng, đến khoảng tháng 12 năm 2018, Trần Quốc A bỏ việc.

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân thành phố N ban hành Bản kết luận định giá tài sản số 92/HĐĐG kết luận:

- Ti vi Led Skyworth 32E2A12G = 02 cái x 2.950.000 đồng = 5.900.000 đồng

- Ti vi mẫu Led Skyworth 32E2A12G = 01 cái x 2.135.000 đồng = 2.135.000 đồng

- Ti vi Led Skyworth 43U5 = 02 cái x 7.900.000 đồng = 15.800.000 đồng

- Ti vi mẫu Led Skyworth 43U5 = 01 cái x 6.293.000 đồng = 6.293.000 đồng

Tổng giá trị tài sản định giá là 30.128.000 đồng (Ba mươi triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 289/CT-VKSNT ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh K đã truy tố bị cáo Trần Quốc A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015.

Đối với Nguyễn Khắc H - Giám đốc Cty HT, khi mua 06 ti vi không biết tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 307/2019/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh K đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngày 11 tháng 12 năm 2019, bị cáo Trần Quốc A có đơn kháng cáo xin giảm mức hình phạt và được hưởng án treo .

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Quốc A giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Quốc A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt Trần Quốc A 09 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo Trần Quốc A trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc A đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Trần Quốc A là nhân viên phát triển thị trường tại tỉnh K của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk. Do có ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk nên ngày 28 tháng 8 năm 2018, bị cáo Anh đã thông báo thông tin giả là CTTNHH NPNVM có nhu cầu đặt hàng để Công ty trách nhiệm hữu hạn Sk tiến hành chuyển hàng cho CTTNHH NPNVM. Ngày 05 tháng 9 năm 2018, bị cáo Anh đến CTTNHH NPNVM lấy số hàng gồm có hai Ti vi Led Skyworth 32E2A12G, một Ti vi mẫu Led Skyworth 32E2A12G, hai Ti vi Led Skyworth 43U5 và một Tivi mẫu Led Skyworth 43U5, có tổng trị giá là 30.128.000 (ba mươi triệu một trăm hai mươi tám nghìn) đồng, bán lấy tiền để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Anh đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Quốc A, như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, xử phạt bị cáo Trần Quốc A 09 (chín) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không còn tình tiết nào khác để Hội đồng xét xử xem xét, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc A.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Quốc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Quốc A,

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Quốc A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 04 tháng 3 năm 2020).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ