vanban.org

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 30/01/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị A.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Lee B. Về con chung: Chị Vũ Thị A khai vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Phương - Lee Chang Yong"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30-01-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đăng Khoa

Ông Nguyễn Thành Biên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân thân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 70/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4929/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5216/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị A, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyê ̣n E, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lee B, sinh năm 1985; nơi cư trú: 130 F, G, H, I, Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị A trình bày:

Chị và anh Lee B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc vào ngày 30/7/2018 và ghi chú tại Uỷ ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 22 tháng 10 năm 2018. Sau khi kết hôn, anh Lee B sống tại Hàn Quốc, còn chị Vũ Thị A sống tại Việt Nam. Do bất đồng ngôn ngữ, mỗi người ở một nơi nên chị Vũ Thị A và anh Lee B không tin tưởng nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Vũ Thị A yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lee B.

Về con chung: Chị và anh Lee B không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung : Chị và anh Lee B không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với kết quả ủy thác cho bị đơn anh Lee B:

Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về việc cung cấp lời khai cho Tòa án đối với anh Lee B theo địa chỉ của chị Vũ Thị A cung cấp. Ngày 05/08/2019, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 2359/BTP-PLQT của Bộ Tư pháp cho biết, Cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn Dân Quốc không thực hiện được uỷ thác tư pháp với lý do không rõ người nhận được ghi chú.

Tại phiên tòa, chị Vũ Thị A vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt của chị A thể hiện: Giữ nguyên quan điểm đã trình bày như trong đơn khởi kiện và bản tự khai.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị và anh Lee B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc vào ngày 30/7/2018 và ghi chú tại Uỷ ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 22 tháng 10 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Lee B. Về con chung và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Lee B hiện đang sinh sống ở Hàn Quốc, nguyên đơn chị Vũ Thị A sinh sống tại Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa bị đơn anh Lee B vắng mặt.

Ngay sau khi nhận được văn bản về việc Cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn Dân Quốc không thực hiện được uỷ thác tư pháp cho anh Lee B với lý do không rõ người nhận được ghi chú, ngày 15 tháng 8 năm 2019, Tòa án đã có văn bản đề nghị đăng tải thông báo trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và của Ban biên tập Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho anh Lee B biết về thời gian mở phiên họp hòa giải, thời gian mở phiên tòa xét xử. Nhưng đã hết thời hạn một tháng kể từ ngày đăng thông báo nhưng anh Lee B không có mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt anh Lee B.

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lee B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc vào ngày 30/7/2018 và ghi chú tại Uỷ ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 22 tháng 10 năm 2018 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn, anh Lee B sống tại Hàn Quốc, còn chị Vũ Thị A sống tại Việt Nam. Do bất đồng ngôn ngữ, mỗi người ở một nơi nên chị Vũ Thị A và anh Lee B không tin tưởng nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị A và anh Lee B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhâ ̣n yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị A.

Về con chung: Chị Vũ Thị A khai chị và anh Lee B không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị A khai vợ chồng không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí uỷ thác tư pháp: Chị Vũ Thị A là nguyên đơn nên phải chi ̣u án phi ly hôn sơ thẩm và lệ phí uỷ thác tư pháp.

́

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm c khoản 6 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Lee B.

2. Về con chung: Chị Vũ Thị A khai vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị A khai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí uỷ thác tư pháp:

Chị Vũ Thị A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001740 ngày 29 tháng 3 năm 2019. Chị Vũ Thị A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) chi phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu số 0001741 ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp.

Chị Vũ Thị A có nghĩa vụ nộp tiền lệ phí ủy thác tống đạt bản án ra nước ngoài tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Toà án thực hiện việc tống đạt bản án ra nước ngoài sau khi nhận được biên lai thu tiền lệ phí uỷ thác do đương sự nộp.

5.Về quyền kháng cáo:

Chị Vũ Thị A (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

Anh Lee B (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ