vanban.org

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Th - Ngô Văn Th"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 4 - 2020
V/v: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Hồng Gái.

2. Bà Đoàn Thanh Thúy.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòn

Đất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: Không

tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh

Kiên Giang xét xử sơ thẩm công Khi vụ án thụ lý số: 59/2020/TLST- HNGĐ ngày

18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXX - ST, ngày 20 tháng 3 năm 2020 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm: 1984; địa chỉ: Tổ 13, khu phố S,

thị trấn S, huyện H, tỉnh K; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Văn Th, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ 13, khu phố S, thị

trấn S, huyện H, tỉnh K; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Văn N, sinh năm: 1963; địa chỉ: Khu phố 2, phường P, thành

phố H, tỉnh K; vắng mặt.

3.2. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1958; địa chỉ: Tổ 13, khu phố S, thị trấn S,

huyện H, tỉnh K; vắng mặt.

3.3. Ông Trần Văn Kh, sinh năm: 1965; địa chỉ: Tổ 4, ấp V, xã S, huyện H,

tỉnh K; vắng mặt.

4. Những người tham gia tố tụng khác:

4.1. Cháu Ngô Mỹ U, sinh ngày 03/8/2005; địa chỉ: Tổ 13, khu phố S, thị trấn

S, huyện H, tỉnh K; có mặt.

4.2. Cháu Ngô Trần Bảo Tr, sinh ngày 14/01/2008; địa chỉ: Tổ 13, khu phố S,

thị trấn S, huyện H, tỉnh K; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn

là chị Trần Thị Th trình bày:

Chị và chồng là anh Ngô Văn Th tự tìm hiểu, yêu thương nhau, cưới nhau

ngày 05/12/2003, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện H, tỉnh K. Vợ chồng chung sống với nhau đến khoảng 2015 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi. Quá trình chung sống anh, chị có hai đứa con chung tên Ngô Mỹ U, sinh ngày 03/8/2005 và Ngô Trần Bảo Tr, sinh ngày 14/01/2008, các con hiện đang ở chung với vợ chồng. Về tài sản chung: Anh, chị có 01 căn nhà ngang 6m x dài 15m tọa lạc tại khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh K trị giá 400.000.000 đồng. Đất cặp mé sông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về nợ chung: Nợ ông Trần Văn N số tiền là 30.000.000 đồng, nợ bà Trần Thị T số tiền là 80.000.000 đồng và nợ ông Trần Văn Kh số tiền là 80.000.000 đồng, tổng cộng là 190.000.000 đồng.

Theo đơn khởi kiện, chị Th yêu cầu được ly hôn với anh Th, yêu cầu được

nuôi các con chung, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, chị yêu cầu được quản lý và sử dụng căn nhà, chị sẽ đưa lại cho anh Th ½ giá trị căn nhà là 200.000.000 đồng. Về nợ chung, chị yêu cầu chia đôi nợ chung, chị và anh Th mỗi người chịu trách nhiệm trả số tiền là 95.000.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 10/3/2020 và tại phiên tòa, chị Th rút yêu cầu chia tài

sản chung do chị và anh Th đã bán căn nhà và tự phân chia tài sản. Về nợ chung: Ông Kh, ông N, bà T và vợ chồng anh, chị sẽ tự thỏa thuận việc thanh toán nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Th do anh Th không thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận tại văn bản thỏa thuận ngày 10/3/2020 nên không thể hàn gắn được. Về con chung yêu cầu giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của các con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản tự khai ngày 25/02/2020 và tại phiên tòa bị đơn là anh Ngô Văn Th

trình bày:

Anh xác định lời trình bày của chị Th về hôn nhân, con chung là đúng. Anh

không đồng ý ly hôn vì cho rằng giữa anh và chị Th không có mẫu thuẫn, anh đi

làm ăn xa, một năm chỉ về nhà vài lần nên không thường xuyên cự cãi như chị Th

trình bày. Thời gian gần đây vợ chồng anh có cự cãi vài lần liên quan việc nợ nần

của chị Th, sau khi lên Tòa án hòa giải vợ chồng đã thống nhất bán tài sản để trả

nợ và cùng lên Bình Dương sinh sống. Tuy nhiên, sau khi bán căn nhà chị Th đã

đổi ý không rút đơn khởi kiện và tiếp tục yêu cầu ly hôn. Về con chung, anh yêu

cầu được nuôi dưỡng cả hai đứa con chung vì chị Th không đủ điều kiện nuôi.

Về tài sản chung: Tại văn bản thỏa thuận ngày 10/3/2020 anh xác định anh và

chị Th đã thống bán căn nhà để trả nợ chung nên anh không tranh chấp. Tại phiên

tòa, anh Th thay đổi ý kiến yêu cầu chị Th đưa cho anh số tiền chia tài sản chung là

100.000.000 đồng anh mới đồng ý ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 20/02/2020, cháu Ngô Mỹ U có nguyện vọng sống với

mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Tại bản tự khai ngày 31/3/2020 và tại phiên tòa cháu U

thay đổi ý kiến, có nguyện vọng sống với cha khi cha, mẹ ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 21/02/2020 và tại phiên tòa, cháu Ngô Trần Bảo Tr có

nguyện vọng sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 10/3/2020, ông Trần Văn N xác định anh Th, chị Th còn

nợ ông số tiền là 30.000.000 đồng. Giữa ông và vợ chồng anh Th, chị Th sẽ tự thỏa

thuận việc thanh toán nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N có đơn

yêu cầu giải quyết vắng mặt tại Tòa án.

Tại bản tự khai ngày 10/3/2020, bà Trần Thị T xác định anh Th, chị Th còn

nợ bà số tiền là 80.000.000 đồng. Bà và vợ chồng anh Th, chị Th sẽ tự thỏa thuận

việc thanh toán nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T có đơn yêu cầu

giải quyết vắng mặt tại Tòa án.

Tại bản tự khai ngày 10/3/2020 ông Trần Văn Kh xác định anh Th, chị Th còn

nợ bà số tiền là 80.000.000 đồng. Anh Th, chị Th đã trả cho ông số tiền là

50.000.000 đồng, số tiền còn lại ông và vợ chồng anh, chị tự thỏa thuận, không yêu

cầu Tòa án giải quyết. Ông Kh có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về tố tụng:

Chị Trần Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ngô

Văn Th, giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Anh Th với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại khu phố S, thị trấn

S, huyện H, tỉnh K nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Các ông, bà Trần Văn Kh, Trần Văn N và Trần Thị T có đơn yêu cầu xin giải

quyết vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của các ông, bà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, bà và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 của BLTTDS.

Tại phiên tòa, chị Th rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc chia tài sản

và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên Tòa án đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Th theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của BLTTDS.

Về nội dung:

Chị Th và anh Th kết hôn vào năm 2013 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban

nhân dân thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Tại phiên tòa, chị Th cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Th vì cho rằng mâu thuẫn giữa chị với anh Th đã đến mức trầm trọng, không thể chung sống hạnh phúc được nữa. Anh Th không đồng ý ly hôn vì xác định giữa anh và chị Th không có mẫu thuẫn. Tuy nhiên, anh không đưa ra được giải pháp hàn gắn mối quan hệ vợ chồng để chị Th quay về chung sống.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên và cho anh, chị thời gian

để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được. Tại phiên tòa, các cháu Ngô Mỹ U và Ngô Trần Bảo Tr là con chung của anh, chị cũng xác định cha, mẹ thường xuyên cãi nhau, gây ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu.

Xét thấy, vợ chồng anh, chị tuy không sống ly thân nhưng mẫu thuẫn ngày

càng lớn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Th yêu cầu được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.

Về nuôi con: Anh, chị có 02 đứa con chung Ngô Mỹ U, sinh ngày 03/8/2005

và Ngô Trần Bảo Tr, sinh ngày 14/01/2008, các con hiện đang ở chung với vợ

chồng anh, chị. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa cháu U có

nguyện vọng sống với cha và cháu Tr có nguyện vọng sống với mẹ khi cha, mẹ ly

hôn. Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng

thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn

đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho

một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07

tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Anh Th yêu cầu được nuôi

dưỡng cả hai đứa con chung vì cho rằng chị Th không có khả năng nuôi, còn chị

Th yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con. Xét thấy, yêu cầu của chị Th phù

hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp với quy định của pháp luật đã được

viện dẫn như trên nên được Tòa án chấp nhận. Giao cháu U cho anh Th trông nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Tr cho chị Th trông nom, chăm sóc,

nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; trừ trường hợp thay đổi quyền

nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị Th, anh Th được quyền thăm nom, chăm

sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Th, chị Th có việc làm và có thu nhập ổn định,

đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

nên Tòa án không giải quyết.

Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án anh Th, chị Th có văn bản thống

nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Th yêu cầu chị Th phải đưa cho anh số tiền chia tài sản

chung là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án anh Th

chưa làm đơn yêu cầu phán tố cũng như thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định

tại Điều 199, 200 của BLTTDS nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Nếu

anh Th, chị Th có tranh chấp thì có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Về nợ chung: Các ông bà Trần Văn Kh, Trần Văn N, Trần Thị T không yêu

cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000

đồng và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu chia tài sản

chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản và thực hiện nghĩa

vụ chung về tài sản của nguyên đơn là chị Trần Thị Th. Chị Th có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Th được ly hôn với anh

Ngô Văn Th.

3. Về nuôi con:

Giao cháu Ngô Mỹ U, sinh ngày 03/8/2005 cho anh Th trông nom, chăm sóc,

nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Giao cháu Ngô Trần Bảo Tr, sinh ngày 14/01/2008 cho chị Th trông nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Chị Th, anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không

ai có quyền ngăn cản.

Cháu U có nguyện vọng sống với cha, cháu Tr có nguyện vọng sống với mẹ

khi cha, mẹ ly hôn.

4. Về án phí:

Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000

đồng (ba trăm nghìn đồng) và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn. Chị Th được khấu trừ số tiền án phí phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009358 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất. Chị Th được nhận lại số tiền là 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận

được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật

thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ