vanban.org

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị V. Về hôn nhân: Chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST
Ngày 14/02/2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Lâm.

Bà Đỗ Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Trần Quốc Tr, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa chị Vui có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trung vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2019, bản tự khai ngày 18/10/2019 của nguyên đơn chị Trần Thị V thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có giấy đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Lộc ngày 27/11/2009. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây anh Tr thường xuyên chửi bới, liên tục rượu chè, không chịu đi làm, không có trách nhiệm gánh vác công việc gia đình con cái cùng chị V. Đến năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Tr đánh đập, chửi bới chị V thậm tệ. Vì vậy, chị không thể chịu đựng sống chung cùng với anh Tr được nữa nên chị cùng với con trai đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 05/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn đoàn tụ được nữa, nên chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc Tr.

Về con: Chị và anh Tr có một con chung là Trần Quốc A, sinh ngày 21/05/2011. Nguyện vọng của chị V xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quốc A và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị V xác định vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ gì, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Quốc Tr:

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trần Quốc Tr nhiều lần đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị V nhưng anh Tr đều vắng mặt không có lí do. Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã về tại gia đình và địa phương để giao thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Trần Quốc Tr.

Biên bản xác minh ngày 28/10/2019 tại thôn Nhân Hậu và UBND xã Đồng Lộc, huyện Hậu Lộc hiện nay anh Tr đang có mặt và làm ăn, sinh sống tại địa phương. Anh Tr đã được trưởng thôn giao thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đến làm việc nhưng anh Tr từ chối không nhận, các lần Tòa án về gia đình giao các văn bản tố tụng thì anh Tr đều có mặt ở nhà nhưng từ chối không nhận các văn bản tố tụng. Tại thời điểm xác minh anh Tr không có mặt tại gia đình, người thân cũng không có ai ở nhà, nhưng theo báo cáo của trưởng thôn và công an xã thì anh Tr đang sinh sống và làm việc tại địa phương. Vì vậy, Toà án đã tiến hành làm thủ tục để niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật. Anh Tr biết việc chị Trần Thị V có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh nhưng anh cố tình trốn tránh, không đến Toà án để làm việc, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Ngày 31/12/2019, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa có mặt chị Trần Thị V, nhưng anh Trần Quốc Tr vắng mặt lần thứ nhất không có lí do nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và thông báo đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai vào ngày 16/01/2020. Ngày 15/01/2020 chị Trần Thị V có đơn xin hoãn phiên tòa. Tòa án Quyết định hoãn phiên toà và thông báo vụ án sẽ được xét xử vào ngày 14/02/2020. Các quyết định hoãn phiên tòa đã được giao và niêm yết hợp lệ cho anh Tr được biết. Ngày 07/02/2020 chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị V và anh Tr.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị V, cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr.

Về con: Xét thấy cháu Trần Quốc A, sinh ngày 21/5/2011 đang còn nhỏ, hiện tại chị Vui đang chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu nên giao cháu Trần Quốc A cho chị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về tài sản và công nợ: Chị Trần Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Nguyên đơn không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị V khởi kiện ly hôn anh Trần Quốc Tr có nơi cư trú tại thôn H, xã Đ, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc đã triệu tập bị đơn là anh Trần Quốc Tr nhiều lần đến Tòa án để tiến hành các thủ tục tố tụng trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Tr đều vắng mặt không có lí do. Toà án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh Tr nhưng anh cố tình từ chối không nhận và không đến Toà án để làm việc, nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 31/12/2019 có mặt chị Trần Thị V nhưng anh Trần Quốc Tr vắng mặt không có lý do nên Toà án đã quyết định hoãn phiên toà và tiếp tục đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai vào ngày 16/01/2020. Ngày 15/01/2020 chị Trần Thị V có đơn xin hoãn phiên tòa. Tòa án Quyết định hoãn phiên toà và thông báo vụ án sẽ được xét xử vào ngày 14/02/2020. Tại phiên tòa hôm nay chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án với sự vắng mặt của anh Trần Quốc Tr và chị Trần Thị V.

[3] Về hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Trần Quốc Tr kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã Đồng Lộc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 27/11/2009, như vậy hôn nhân giữa anh Tr và chị V là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh Tr: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây anh Tr thường xuyên chửi bời, liên tục rượu chè, không chịu đi làm, không có trách nhiệm gánh vác công việc gia đình con cái cùng chị V. Đến năm 2019 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, anh Tr đánh đập, chửi bới chị V. Vì vậy, chị không thể chịu đựng sống chung cùng với anh Tr được nữa nên chị V cùng với con trai đã về nhà ngoại ở từ tháng 05/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Như vậy, hôn nhân giữa chị V và anh Tr đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị V, cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con: Chị Trần Thị V và anh Trần Quốc Tr có 01 con chung là Trần Quốc A, sinh ngày 21/05/2011. Ly hôn, nguyện vọng của chị V xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Quốc A.

Xét thấy nguyện vọng của chị Trần Thị V đề nghị về việc được nuôi dưỡng cháu Quốc A là hoàn toàn chính đáng. Vì hiện nay cháu Quốc A đang còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, hơn nữa lâu nay cháu Quốc A do chị V chăm sóc, nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu A cũng mong muốn ở với mẹ. Nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị V, giao chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc A là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị, nên HĐXX không xem xét.

[5].Về tài sản và công nợ: Chị V không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.

[6].Về án phí: Buộc chị Trần Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị V.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Quốc Tr.

Về con: Chấp nhận cháu Trần Quốc A, sinh ngày 21/5/2011 là con chung giữa chị V và anh Tr. Giao cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc A cho đến khi cháu Trần Quốc A đủ tuổi thành niên, anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Tr cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị V.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0008033 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc ( Chị V đã nộp đủ tiền án phí).

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Chị V, anh Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ