- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Buộc chị Lê Thị Ng phải chịu 300.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20 /2020/DSST Ngày: 30/12/2020 V/v:“yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH –TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bảng và ông Phạm Xuân Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký TAND huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở TAND huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:111/2020/TLST- DS ngày 23 tháng 11 năm 2020 về “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:158 /2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm 2, Xã T, huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: chị Lê Thị Ng, sinh năm 1976.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm 2, Xã T, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Có
mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đình Tr, sinh năm 1972
Trú tại: Xóm 2, Xã T, Yên Thành, Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Vào hồi 11 giờ ngày 09 tháng 10 năm 2020, chị H có đem một số rác gồm lá mưng, bẹ chuối khô ra phơi ở đoạn đường đi ra đồng để đốt. Đến khoảng 11 giờ 45 phút gia đình chị đang ăn cơm trong bếp thì nghe có tiếng chửi bới ngoài cổng, chị nhìn ra sân thì thấy mẹ con chị Ng đang đứng chửi trước cổng. Chị H đi ra, thấy chị, chị Ng nói “ai cho mi bỏ rác ở đây” thì chị H nói “tôi bỏ rác ở đây chiều đốt”, chị Ng trả lời “đốt choa cũng không cho” đồng thời chị Ng chạy đi kêu bà Nguyễn Thị Lan là mẹ chồng hùa vào để đánh chị. Sau đó chị Ng chạy lại chổ tôi để rác hốt số rác đó đem vào sân nhà chị H quăng, tiếp tục lần thứ hai chị Ng lại tiếp tục gom số rác còn lại đem vào sân chị quăng tiếp, trong khi đó chị H đứng ở sân dùng hai tay ngáng lại và nói không được đem vào đây để đổ rồi chị nép lại thì chị Ng đã thả rác trong tay ra và túm lấy tóc chị H giật mạnh làm chị bổ gục xuống sân bê tông. Khi đó chị H bị choáng và đau không chống đỡ được gì thì chị Ng đã nắm tóc của chị H lôi chị ra đến cổng, khi đến cổng thì chị H có tì lại và kêu cứu, một lúc sau thì chồng chị H là anh Trần Đình Tr mới chạy ra, sau đó thì chị H bị choáng và không biết gì nữa, khi tỉnh dậy thì thấy người lớn, con nít đứng xem đông. Khoảng 15 giờ chiều cùng ngày thì Ban công an Xã T đến kiểm tra hiện trường và lập biên bản. Khoảng 19 giờ ngày 09/10/2020 thì anh Trường gọi xe chở chị H đi viện khám và điều trị. Thời gian nằm viện và điều trị hơn 01 tháng nhưng chị Ng không hỏi thăm một lời nào. Toàn bộ các hóa đơn, chứng từ và bệnh án nằm viện chị H đã cung cấp đầy đủ cho Tòa án. Nay để đảm bảo quyền lợi cho mình, chị H đề nghị Tòa án buộc chị Ng phải bồi thường cho chị những khoản sau: tiền chụp phim CT não và đầu gối 1.730.000đ; tiền viện phí và thuốc 4.543.000đ; tiền tắc xi đi lại 600.000đ; ngày 19/10/2020 đi viện đa khoa thành phố Vinh tiền chụp cộng từ có phim 1.800.000đ; tiền viện phí 1.394.000đ; tiền thuốc 4.340.000đ; tiền đi lại 1.200.000đ; tiền tổn thất tinh thần 5.000.000đ; tiền điều trị ở viện 30 ngày 9.000.000đ; tiền mất thu nhập 10 ngày 3.000.000đ; tiền mất thu nhập do phải có người nuôi 30 ngày 15.000.000đ; tiền mất thu nhập 01 tháng 60 triệu đồng. Tổng cộng chị Lê Thị H yêu cầu chị Lê Thị Ng phải bồi thường cho chị tổng số tiền là 107.597.000đ (một trăm linh bảy triệu năm tram chín mươi bảy nghìn đồng).
Bị đơn chị Lê Thị Ng trình bày: vào ngày 09 tháng 10 năm 2020 thì có sự việc xô xát giữa chị và chị H nhưng đó là do chi ̣ H đổ rác ca ̣nh bờ ruô ̣ng của me ̣ chồng chị, chị nói nay có xe rác rồi bỏ vào bì cho họ chở nhưng chị H nói ´´bờ ruô ̣ng của xa hô ̣̃ i choa muốn bỏ ở mô choa bỏ ´´. Chị Ng liền vơ số rác của ch ị H bỏ vào cổng nhà chị H, chị H đưa tay đẩy chị ra mô ̣t tay đẩy ngực , mô ̣t tay cầm tóc, sau đó tôi vòng tay nắm la ̣i mong chị H thả ra trướ c sự chứ ng kiến của anh Trườ ng chồng chị H. Sau đó tôi và chị H thả tay nhau ra không ai bị gì cả. Sự viê ̣c chi có thế, buổi chiều ông Minh xóm trưở ng
̉
gọi điện cho Ban Công an xã xuống lập biên bản và giải quyết . Tôi không đồng ý vớ i yêu cầu c ủa chị H vì lý do : Sau sự viê ̣c hôm đó thi sứ c khỏe ch ị H hoàn toàn bình
̀ thườ ng, phần đầu gối của ch ị H không bi ̣ ảnh hưở n g gi. Khi chị H có lấy tay xô đẩy
̀ kéo túm tóc tôi từ đằng sau nên tôi mớ i túm la ̣i và viê ̣c này là phòng vê ̣ chứ không đánh ngườ i, không có gâ ̣y gô ̣c hay vũ khí gi , lúc chị H xô đẩy tôi thi có anh Trườ ng chồng
̀
̀ chị H đứ ng đó chứ ng kiến không can ngăn ; khi ra chu ̣p CT thì bệnh viện nói chị H không bi ̣ gi. Trong khoảng thờ i gian từ ngày 09 đến ngày 15 tháng 10 năm 2020 thì chị
̀ H vẫn đi chợ binh thườ ng không có dấu hiê ̣u bi ̣ đau nên viê ̣c nằm viê ̣n khô ng liên quan
̀ đến tôi (viê ̣c chị H nằm viê ̣n nhằm ăn va ̣ đối vớ i tôi ). Vì vậy tôi không chấp nhâ ̣n bất cứ một khoản tiền nào về yêu cầu đòi bồi thườ ng của chị H.
Anh Trần Đình Tr trình bày: Vợ anh nằm viê ̣n 1 tháng anh không đi làm được mà phải ở nhà chăm chi ̣ H, anh phải thuê ngườ i lái xe thay anh mỗi n gày tiền công 500.000đ. Vợ chồng anh mỗi ngày thu nhâ ̣p 02 triê ̣u đồng nhưng anh không tinh tiền
́ mất thu nhâ ̣p mà chi yêu cẩ
̀u chị Ng trả tiền thuê người lái xe một tháng 15 triê ̣u đồng. Vì vậy anh đề nghị buô ̣c chi ̣ Ng phải trả cho vợ anh và anh số tiền 15 triê ̣u đồng.
Đối với bà Nguyễn Thị Lan và chị Lê Thị Hà trình bày: Sự viê ̣c hôm đó thi chi ̉
̀ có mâu thuẫn trong việc đổ rác nhưng nguyên nhân sâu xa thì mâu thuẫn hai gia đình đã có từ lâu, chị Ng chỉ có hai mẹ con nên gia đình anh Trường, chị H muốn lấn át. Còn sự viê ̣c ngày 09 tháng 10 năm 2020 thì chị Hà và bà Lan là người chứng kiến xô xát giữa chi ̣ H và chị Ng trong vòng chưa đầy 01 phút, chị Hà và bà Lan không hề động chạm vào người chị H nên viê ̣c chi ̣ H kiê ̣n chi ̣ Hà và bà Lan thì chị Hà và bà Lan không chấp nhâ ̣n.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H cũng thừa nhận hôm xảy ra xô xát thì chỉ có chị và chị Ng xô xát với nhau, chị Hà và bà Lan không tác động vào người chị H. Nên chị H xin rút một phần khởi kiện ban đầu là kiện 03 người gồm chị Lê Thị Ng, bà Nguyễn Thị Lan và chị Lê Thị Hà nay chỉ kiện 01 người là Lê Thị Ng đồng thời bổ sung yêu cầu chị Ng phải bồi thường thêm số tiền 60 triệu đồng nữa do bị mất thu nhập một tháng mà tại đơn khởi kiện chị H chưa đưa vào.
Có mặt tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Yên Thành phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về giải quyết vụ án: Chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn đối với việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ở mức 7.273.000đ tuy nhiên do cả nguyên đơn và bị đơn đều có lỗi trong việc này nên Ban công an xã mới xử phạt hành chính cả hai bên. Vì vậy đề nghị chia đôi số tiền bồi thường trên và buộc chị Ng phải bồi thường cho chị H số tiền 3.636.500đ. Về án phí buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định của Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận thấy:
1.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Lê Thị H.
2.Về quan hệ pháp luật: Đây là quan hệ pháp luật yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại điều 590 BLDS. Theo đó ngày 09 tháng 10 năm 2020 do có mâu thuẫn từ trước đó cộng với việc bức xúc do thấy chị H để rác ngoài đường cạnh đường đi nên giữa chị Ng và chị H đã xẩy ra xô xát.Chị Ng đưa rác vào để trong sân của chị H và bị chị H ngăn lại, sau đó hai bên đã xông vào túm tóc cấu xé nhau. Chị H sau đó bị chị Ng lôi tóc kéo ra đến cổng thì dừng lại. Sự việc chỉ dừng lại khi có một số người dân nghe tiếng chửi bới chạy đến xem. Sau khi xảy ra sự việc thì đại diện xóm 2 đã báo cáo lên Ban công an Xã T đến lập biên bản sự việc. Tối ngày 09 tháng 10 năm 2020 thì chị H được chồng gọi xe đưa đi khám và điều trị. Đến ngày 14 tháng 10 năm 2020 chị H vào nhập viện tại bệnh viện Đa khoa Phủ Diễn thể hiện tại tóm tắt bệnh án và giấy ra viện ngày 19 tháng 10 năm 2020 với chẩn đoán: đau đầu mạn tính sau chấn t H, bệnh tăng huyết áp vô căn, viêm dạ dày tá tràng, rối loạn giấc ngủ, chóng mặt do nguyên nhân ngoại biên khác. Chụp CLVT sọ não: hiện tại không thấy hình ảnh bất thường trên phim CLVT sọ não. Tại đơn khởi kiện cũng như tại các buổi hòa giải chị H yêu cầu chị Lê Thị Ng phải bồi thường những khoản sau: tiền chụp CT não 1.730.000đ; tiền viện phí và thuốc 4.340.000đ; tiền đi lại 1.200.000đ; tiền tổn thất về tinh thần 5.000.000đ; tiền điều trị 01 tháng tại bệnh viện 9.000.000đ; tiền mất thu nhập 10 ngày 3.000.000đ; tiền mất thu nhập một người chăm nuôi 15.000.000đ; tiền mất thu nhập một tháng của chị H 60.000.000đ, tổng cộng chị Lê Thị H yêu cầu chị Ng phải bồi thường số tiền 107.607.000đ (một trăm lẻ bảy triệu sáu trăm linh bảy nghìn đồng).
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lê Thị H chấp nhận rút một phần khởi kiện so với ban đầu tức chỉ khởi kiện đối với chị Lê Thị Ng chứ không khởi kiện cả chị Lê Thị Hà và bà Nguyễn Thị Lan. Đây là việc tự nguyện rút một phần khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho việc rút phần khởi kiện này.
Tại các phiếu hóa đơn, chứng từ mà chị Lê Thị H giao nộp cho Tòa án thể hiện có các loại hóa đơn, chứng từ sau: hóa đơn số 23965 ngày 20 tháng 10 năm 2020 tiền nằm viện, xét nghiệm, CT scaner sọ não, thuốc, vật tư y tế 2.585.000đ; hóa đơn số 23957 ngày 09 tháng 10 năm 2020 gồm khám, CT scanner sọ não, chụp Xquang khớp gối 670.000đ; hóa đơn số 23958 ngày 09 tháng 10 năm 2020 tiền thuốc 78.000đ; hóa đơn số 23961 ngày 12 tháng 10 năm 2020 gồm thuốc và vật tư y tế 390.000đ; biên lai thu tiền viện phí, lệ phí ngày 12/10/2020 là 50.000đ; biên lai thu tiền viện phí, lệ phí ngày 20 tháng 10 năm 2020 là 100.000đ; hóa đơn bán hàng ngày 19 tháng 10 năm 2020 của bện viện đa khoa thành phố Vinh số 0029817 là 1.360.000đ; hóa đơn bán hàng số 0213272 ngày 22 tháng 10 năm 2020 của bệnh viện đa khoa thành phố Vinh 34.000đ; đơn thuốc ngày 06 tháng 11 năm 2020 của cơ sở khám Minh Sơn trị giá 1.950.000đ; đơn thuốc ngày 19 tháng 10 năm 2020 của cơ sở khám Minh Sơn trị giá 2.390.000đ. Tổng cộng tất cả các loại chứng từ hóa đơn trên là 9.517.000đ (chín triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng). Trong những hóa đơn chứng từ này có những đơn thuốc chị H mua thêm bên ngoài như của cơ sở khám Minh Sơn (02 cái); hóa đơn bán hàng số 0029817 và hóa đơn số 0213272 của bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh ghi là “viện phí” nhưng thực tế chị H không nằm điều trị tại đây vì vậy không chấp nhận những khoản phí này. Vì vậy cần chấp nhận tiền hóa đơn, chứng từ mua thuốc và điều trị tại bệnh viện đa khoa Phủ Diễn là 3.782.000đ. Ngoài ra chị H và anh Trường còn yêu cầu bồi thường 15 triệu đồng là tiền thuê người lái xe do anh Trường không đi lái được và phải ở nhà chăm chị H là không có cơ sở vì thực tế chị H chỉ nằm viện 05 ngày, quá trình xác minh cho thấy trong thời gian này anh Trường cũng không thuê ai lái xe. Đối với công lao động nông thôn bình thường thì một ngày công lao động giản đơn thì thu nhập chỉ từ 100.000đ đến 250.000đ/ngày công, vì vậy cần chấp nhận cho việc anh Trường mất ngày công lao động là 1.250.000đ. Ngoài ra chị H còn yêu cầu chị Ng bồi thường tiền nằm viện 01 tháng 09 triệu đồng, tiền mất thu nhập một tháng 60 triệu đồng là không có cơ sở vì thực tế chị H nằm viện 05 ngày, chị H là lao động nông thôn bình thường nên không thể có thu nhập cao như vậy được do đó không có căn cứ để chấp nhận những khoản này. Đối với khoản tiền đi lại 1.200.000đ; tiền tổn thất về tinh thần 5.000.000đ; tiền mất thu nhập 10 ngày 3.000.000đ thì đối với quảng đường từ Yên Thành vào bệnh viện Đa khoa Phủ Diễn tính hai lượt đi về đối với 02 người là 200.000đ; tiền xe vào Vinh đi khám 02 người đi về 200.000đ. Đối với khoản tiền mất thu nhập của chị H trong thời gian 05 ngày không lao động được là 1.000.000đ; tiền tổn thất về tinh thần là 1.490.000đ. Cộng toàn bộ yêu cầu buộc chị Ng phải bồi thường cho chị H số tiền là 7.922.000đ (bảy triệu chín trăm hai mươi hai nghìn đồng). Xét về lỗi của hai bên tương đương nhau do bên nào cũng có một phần lỗi trong vụ việc này nên cần chia đôi số tiền trên buộc chị Lê Thị Ng phải bồi thường cho chị Lê Thị Ng một nửa số tiền trên là hợp lý.
Về án phí: buộc chị Lê Thị Ng phải chịu án phí DSST có giá ngạch theo quy
định tại điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH14.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 584, 585, 586, 590 – BLDS năm 2015; điều 147 BLTTDS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án xử: buộc chị Lê Thị Ng phải bồi thường cho chị Lê Thị H số tiền 3.961.000đ (ba triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Về án phí: Buộc chị Lê Thị Ng phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357 BLDS năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận TAND tỉnh Nghệ An; VKSND tỉnh Nghệ An; VKSND huyện Yên Thành; Chi cục THADS huyện Yên Thành; Các đương sự trong vụ án; Lưu HS, Vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quang Sơn |