vanban.org

Bản án 20/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Trương P và bà Hồ Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 831.238.584đ (Tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó: Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 là 762.575.086 đồng, trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/DS-ST
Ngày 20-7-2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Hoa Kiều

2. Bà Nguyễn Thị Anh Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là S); trụ sở: Số 266-268 đường N, phường, quận, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Bà Nguyễn Đức Thạch D, là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc);

- Ông Nguyễn Quang T; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S-Chi nhánh Q, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 3905/2019/GUQ-PL ngày 16-12-2019);

- Ông Nguyễn Quang T ủy quyền lại cho: Ông Phạm Hữu T; chức vụ: Phó phụ trách Phòng giao dịch H, Ngân hàng TMCP S– Chi nhánh Q (Văn bản uỷ quyền số 10a/2020/GUQ-QNI ngày 20-01-2020). Có mặt.

2. Bị đơn:

- Ông Trương P, sinh năm 1951, vắng mặt.

- Bà Hồ Thị N, sinh năm 1953, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trương Thị Kim Q, sinh năm 1980, vắng mặt.

Địa chỉ: Số 79/6 đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Anh Phạm C, sinh năm 1977, vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm K, thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 02-12-2019, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S do ông Phạm Hữu T đại diện trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Q – Phòng giao dịch H và ông Trương P, bà Hồ Thị N có ký kết Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019, số tiền cho vay là 670.000.000 đồng; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh, mua bán thủy hải sản; thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ gốc trả cuối kỳ, lãi trả hàng tháng; lãi suất 03 tháng đầu 10%/năm, từ tháng thứ 04 trở đi kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo mức lãi suất bằng lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cộng biên độ 4%/năm. Ngoài ra, ngày 15-3-2018 giữa Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q – Phòng giao dịch H và ông Trương P còn ký kết 01 Hợp đồng cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 50.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho các hợp đồng nêu trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 1, tại thôn P, xã N, thành phố Q đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 457658, số vào sổ cấp GCN: CH02217 ngày 20-12-2011 cho anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291 ngày 01-3-2018 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291-02 ngày 21-02-2019 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Q – Phòng giao dịch H với chị Trương Thị Kim Q và anh Phạm C. Việc thế chấp tài sản trên đã được Văn phòng công chứng P công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi, Chi nhánh thành phố Q.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Q– Phòng giao dịch H đã giải ngân cho ông Trương P, bà Hồ Thị N đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nói trên. Tuy nhiên, trong quá trình trả nợ vay, ông P và bà N thường xuyên vi phạm hợp đồng, việc trả nợ cho S thường trễ hạn. Đến nay ông P, bà N không còn khả năng trả nợ cho S. S đã chủ động liên hệ với ông P, bà N để bàn về hướng xử lý khoản nợ trước khi chuyển nợ quá hạn, cũng như sau khi phát sinh nợ quá hạn. Ông P, bà N có nhiều lần cam kết trả nợ cho S nhưng đến nay vẫn không thực hiện đúng như cam kết.

Tính đến ngày 20-7-2020 ông Trương P và bà Hồ Thị N còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 831.238.584 đồng. Trong đó:

- Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 là 762.575.086 đồng, trong đó nợ gốc là 670.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 45.618.740 đồng, nợ lãi quá hạn là 46.956.346 đồng.

- Khoản nợ theo Hợp đồng cấp thẻ tín dụng là 68.663.498 đồng.

S yêu cầu giải quyết buộc ông P và bà N phải thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng cấp thẻ tín dụng nêu trên cho S và yêu cầu tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho S. Trường hợp ông P và bà N không trả nợ thì S yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký để S thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì S yêu cầu ông P và bà N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả xong nợ cho S.

* Tại bản tự khai ngày 27-02-2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết ông Trương P trình bày: Vào ngày 21-02-2019 ông và bà Hồ Thị N có ký Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 vay của Ngân hàng TMCP S- chi nhánh Q – Phòng giao dịch H số tiền 670.000.000 đồng và Hợp đồng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng. Ông và bà N đồng ý trả cho S tổng số tiền nợ gốc, lãi và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019; thống nhất trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Đối với Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018, ông không đồng ý trả vì cho rằng khi cho vay tiền, cán bộ Ngân hàng không giải thích mức lãi suất nên ông không biết. Trường hợp ông và bà N không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho S.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trương Thị Kim Q và anh Phạm C không có lời trình bày:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 91, 147, 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 295, 299, 317, 318, 319, 320, khoản 2 Điều 322, khoản 7 Điều 323, Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S:

+ Buộc ông Trương P và bà Hồ Thị N thanh toán cho S số tiền nợ tính đến ngày 20-7-2020 là 831.238.584 đồng. Trong đó nợ gốc là 670.000.000 đồng, lãi trong hạn là 45.618.740 đồng, lãi quá hạn là 46.956.346 đồng theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 và dư nợ gốc thẻ tín dụng là 55.769.474 đồng, lãi quá hạn là 12.894.024 đồng của hạn mức tín dụng ngày 15-3-2018.

+ Trường hợp ông Trương P và bà Hồ Thị N không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 229, tờ bản đồ số 1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 457658, số vào sổ cấp GCN: CH02217 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 20-12-2011 cho anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291 ngày 01-3-2018 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác.

+ Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Ngân hàng đã nộp và chi phí xong, do đó bị đơn phải hoàn trả cho Ngân hàng.

+ Về án phí: Bị đơn không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả 17.072.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP S theo Biên lai số AA/2018/0003133 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là ông Trương P và bà Hồ Thị N; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trương P, bà Hồ Thị N, anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của S về việc yêu cầu ông Trương P và bà Hồ Thị N phải thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp thẻ tín dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo trình bày của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn và theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Giữa S - Chi nhánh Q– Phòng giao dịch H và ông Trương P, bà Hồ Thị N có ký kết Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019, số tiền cho vay là 670.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng và ông Trương P ký Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018 hạn mức 50.000.000 đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, cùng ngày 21-02-2019 S– Chi nhánh Q– Phòng giao dịch H đã giải ngân cho ông Trương P và bà Hồ Thị N nhận đủ số tiền vay là 670.000.000 đồng; đối với Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ông Trương P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 73.900.000 đồng. Trong quá trình trả nợ vay, ông Trương P và bà Hồ Thị N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay như đã cam kết trong các hợp đồng tín dụng và hợp đồng cấp thẻ tín dụng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (20-7-2020) ông Trương P và bà Hồ Thị N còn nợ S tổng số tiền là 831.238.584 đồng, trong đó:

- Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 là 762.575.086 đồng, trong đó nợ gốc là 670.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 45.618.740 đồng, nợ lãi quá hạn là 46.956.346 đồng.

- Khoản nợ theo Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018 là 68.663.498 đồng.

Đối với Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018, ông Trương P không đồng ý trả vì cho rằng khi cho vay tiền, cán bộ Ngân hàng không giải thích mức lãi suất nên ông không biết. Tuy nhiên tại phần Cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15-3-2018 đã thể hiện rõ nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình sử dụng thẻ. Do đó, S yêu cầu ông Trương P và bà Hồ Thị N phải thanh toán cho S số tiền nợ trên (tính đến ngày 20-7-2020) cùng lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký cho đến khi trả xong các khoản nợ nên căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S.

Xét yêu cầu của S về xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm cho các khoản vay nêu trên, ngày 01-3-2018 S - Chi nhánh Q- Phòng giao dịch H và anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291-02 ngày 21-02-2019 đối với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại thôn P, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 457658, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02217 ngày 20-12-2011 cho anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q. Việc thế chấp đã được Văn phòng công chứng P chứng nhận và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi, chi nhánh thành phố Q. Do đó, hợp đồng thế chấp nêu trên giữa S-Chi nhánh Q– Phòng giao dịch H với anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q đã có hiệu lực pháp luật.

Về xử lý tài sản thế chấp:

Tại khoản 1 Điều 1 của hợp đồng thế chấp số LD1805800291 ngày 01-3-2018 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291-02 ngày 21-02-2019 quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm: Toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với S (gồm nợ gốc, nợ lãi, phí, các khoản phải trả khác) tại Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 và tất cả các sửa đổi, bổ sung, phụ lục hợp đồng, giấy nhận nợ; các cam kết của bên được cấp tín dụng với S dưới hình thức khác (cấp thẻ tín dụng, cho vay thấu chi ...) và các cam kết khác của bên được cấp tín dụng với S”.

Ngoài ra tại phần cam kết trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa S-Chi nhánh Q với ông Trương P có quy định: “Trường hợp tôi được S cấp tín dụng dưới bất kỳ hình thức nào (tại bất kỳ thời điểm nào) và có nghĩa vụ bảo đảm của tài sản đó đương nhiên bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình sử dụng thẻ”.

Tại khoản 21 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác nêu trên có ghi “Thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho Bên được cấp tín dụng trong trường hợp Bên được cấc tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của S. Trường hợp bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thay thì S có toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điều 7 của Hợp đồng này” và tại khoản 1 Điều 7 của Hợp đồng nêu trên có ghi “S được toàn quyền xử lý tài sản đảm bảo mà không phụ thuộc và ý chí của bên thế chấp và/hoặc bên được cấp tín dụng theo một trong các trường hợp sau: Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ được quy định tại Hợp đồng tín dụng, kể cả trường hợp bên được cấp tín dụng phải thực hiện việc trả nợ trước hạn theo quy định của S hoặc theo quy định của pháp luật”. Tại cam kết thế chấp ngày 16-02-2019 anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q xác định tài sản thế chấp là toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa số 299, tờ bản đồ số 1, thôn P, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Việc các bên thỏa thuận như trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20-02-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi thì tài sản gắn liền với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 1, xã N, thành phố Q gồm: Ngôi nhà cấp IV có cấu trúc móng đá chẻ, tường xây gạch, mái lợp tole, nền lát gạch men, cửa gỗ của anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q xây dựng. Ngoài ra, trên đất không có vật kiến trúc hoặc cây trồng gì khác.

Do đó, trường hợp ông Trương P và bà Hồ Thị N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 và Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018 thì S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291 ngày 01-3-2018; thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291-02 ngày 21-02-2019 và cam kết thế chấp ngày 16-02-2019 để thu hồi nợ.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm C và chị Trương Thị Kim Q đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

Về chi phí phí tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng ông Trương P và bà Hồ Thị N phải chịu nhưng S đã tạm ứng và chi phí xong nên buộc ông Trương P và bà Hồ Thị N phải hoàn trả cho S số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Về án phí: Ông Trương P và bà Hồ Thị N là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

S không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, 244, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, 317, 318, 320, 322 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 12, 14 và 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Trương P và bà Hồ Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 831.238.584đ (Tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó:

- Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD1905000444 ngày 21-02-2019 là 762.575.086 đồng, trong đó nợ gốc là 670.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 45.618.740 đồng, nợ lãi quá hạn là 46.956.346 đồng.

- Khoản nợ theo Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 15-3-2018 là 68.663.498 đồng, trong đó nợ gốc là 55.769.474 đồng và nợ lãi quá hạn là 12.894.024 đồng.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (21-7-2020) cho đến khi thi hành án xong ông Trương P và bà Hồ Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Q – Phòng giao dịch H.

3. Trường hợp ông Trương P và bà Hồ Thị N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành ánh dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng và tài sản gắn liền với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 1, tại thôn P, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291 ngày 01-3-2018; thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số LD1805800291-02 ngày 21-02-2019 và cam kết thế chấp ngày 16-02-2019 tại giai đoạn thi hành án để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP S.

Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trương P và bà Hồ Thị N phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng ông Trương P và bà Hồ Thị N phải chịu nhưng Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã tạm ứng và chi phí xong nên buộc ông Trương P và bà Hồ Thị N phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

5. Về án phí: Ông Trương P và bà Hồ Thị N được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 17.072.000đ (Mười bảy triệu, không trăm bảy mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2018/0003133 ngày 17-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ