vanban.org

Bản án 20/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu đen.Trả lại chị Nguyễn Thị Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đỏ, xám đen, BKS: 88K1 - 8767 đã cũ.Trả lại cho Kh 01 mũ bảo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Khanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HSST
Ngày 28 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Vĩnh và ông Nguyễn Xuân Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/HSST ngày 18/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST - HS ngày 15/8/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1983; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1954 và bà Trần Thị L, sinh năm 1961; vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1977, con: có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tiền sử: Tại bản án số 137/HSST ngày 16/10/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Cướp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 21/9/2006 và tại bản án số 35/2015/HSST ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 07/4/2016. Đến nay hai bản án trên đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/5/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương, (có mặt);

Người bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người bị hại chị Nguyễn Thị Th1: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972; Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1977; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt);

Người làm chứng: Chị Vũ Thị K, sinh năm 1986; Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 02/05/2019, Nguyễn Văn Kh điều khiển xe máy nhãn hiệu Waves, màu đỏ, xám đen BKS: 88K1-8767 chở theo con gái là Nguyễn Thị Tr đi từ nhà đến thị trấn T để mua xăng. Khi đi đến thị trấn Kh quan sát thấy nhà anh Nguyễn Văn Đ ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Sông Lô không có ai ở nhà nên Kh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Kh điều khiển xe máy đi vào sân nhà anh Đ rồi gọi “Cô ơi, có ai ở nhà không?”, nhưng không thấy ai trả lời. Kh nhìn ra khu vực chuồng nuôi lợn nhà anh Đ thì thấy có nhiều gà đang nhốt trong lồng và 01 con chó màu đen vàng, có trọng lượng 27 kg đang xích cạnh đó. Kh để cháu Tr ngồi trên xe rồi một mình đi ra hướng chuồng lợn, nhặt 01 chiếc bao tải xác rắn màu trắng ở cạnh gốc chuối rồi tiến đến chiếc lồng sắt nhốt 02 con gà ở vị trí trước cửa chuồng chứa rơm, tay trái cầm miệng bao tải, tay phải mở chốt cửa bắt 01 con gà trống chọi màu tía đen, trọng lượng 2,7kg, 01 con gà mái chọi màu đen, trọng lượng 2 kg đúc vào bao tải, rồi tiếp tục đi đến khu vực chuồng trại chăn nuôi nhà anh Đại, khu vực này có 10 chuồng nuôi lợn được xây dựng theo hình chữ L. Kh đến chuồng số 1 theo hướng từ trái sang phải nhìn từ ngoài vào bắt 02 con gà mái lai chọi, mỗi con có trọng lượng 2,0 kg cho vào bao tải, rồi sang các chuồng số 8,9,10 (theo hướng từ trái sang phải, từ ngoài vào) bắt 01 con gà mái chọi lông màu xám hồng, trọng lượng 2,0 kg, 01 con gà trống chọi lông màu ô trắng, trọng lượng 2,7 kg và 02 con gà mái lai chọi màu đen, trọng lượng 2,0 kg/con đúc vào bao tải. Sau khi bắt được 08 con gà Khanh dùng dây buộc miệng bao tải rồi mang ra xe máy chở đi theo hướng ra thị trấn T. Đi được khoảng 200m Kh dừng xe cất dấu bao tải gà vừa bắt được vào bụi cỏ voi ven đường rồi điều khiển xe máy quay lại nhà anh Đ trên đường Khanh nhặt 01 chiếc bao tải xác rắn màu đen ở ven đường mục đích để quay lại nhà anh Đ bắt chó. Khi đến nhà anh Đ Kh thấy chiếc tải xác rắn màu đen bị rách nên vứt lại ở vườn nhà anh Đ và nhặt 01 chiếc bao tải xác rắn màu trắng ở trong chuồng lợn nhà anh Đ rôi tiến đến khu vực xích chó ở trước cửa ô chuồng lợn số 3,4. Kh gọi con chó rồi dùng tay phải tháo xích và ôm con chó cùng xích cho vào bao tải, dùng dây buộc miệng bao tải và sách ra xe máy đặt lên trước đùi mình rồi điều khiển xe đi đến vị trí cất dấu gà lấy bao tải gà móc vào trước xe và đi về hướng thị trấn L, huyện Lập Thạch để bán. Khi Kh đi đến khu vực xã T thì thấy một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ đi xe máy ngược chiều có chở lồng gà phía sau, Khanh hỏi người này có mua gà không người này đồng ý mua và Kh bán 08 con gà vừa trộm cắp được cho người phụ nữ này với giá 400.000đ. Sau đó tiếp tục điều khiển xe máy chở theo con gái và con chó vừa trộm cắp được ra chợ thị trấn L bán con chó (lúc này con chó đã bị chết) cho chị Vũ Thị K ở thôn V, xã T, huyện Lập Thạch là người bán thịt chó với giá 200.000đ. Bán chó xong Khanh cầm tiền và đi về nhà. Ngày 06/05/2019, anh Nguyễn Văn Đ có đơn trình báo gửi Công an huyện Sông Lô. Ngay sau khi nhận được tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập vật chứng và triệu tập Kh đến làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34 ngày 16/05/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Lô kết luận tổng trị giá tài sản do Nguyễn Văn Kh trộm cắp là 3.658.000 đồng. Trong đó: trị giá 08 con gà là 1.768.000 đồng, trị giá 01 con chó là 1.890.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án:

08 con gà do Kh trộm cắp của anh Đại gồm: 02 con gà trống chọi, trọng lượng mỗi con là 2,7kg, 02 con gà mái chọi, trọng lượng mỗi con là 2,0kg, 04 con gà mái lai chọi, trọng lượng mỗi con là 2,0kg. Do Kh không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người mua gà nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

01 con chó màu đen vàng, có trọng lượng 27 kg. Sau khi Kh trộm cắp được đã bị chết và bán cho chị K. Chị K đã thịt và bán tại chợ Lập Thạch.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đỏ, xám đen, BKS: 88K1 - 8767 đã cũ, đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra xác định đây là xe của chị Nguyễn Thị Th việc Khanh sử dụng chiếc xe này để đi trộm cắp chị Th không biết.

01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu CPOMO, loại mũ trùm cằm, màu trắng, hoa văn màu xanh đã cũ, đã qua sử dụng. 01 bao tải xác rắn màu đen không còn giá trị sử dụng. 01 ví giả da màu nâu đã cũ, đã qua sử dụng bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Kh; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 011819 mang tên Đỗ Văn D; Số tiền 627.000đ.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 07/6/2019, anh Nguyễn Văn Kh đã trả cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 3.658.000đ. Sau khi nhận lại số tiền, anh Đ không yêu cầu Kh phải bồi thường gì.

Đối với người phụ nữ đã mua 08 con gà của Kh. Do Kh không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

Đối với chị Vũ Thị K ở thôn V, xã T, huyện Lập Thạch khi mua chó của Kh không biết con chó do Kh trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Kh đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 20/CT - VKS ngày 17/7/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn Kh từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Đ có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ mục đích tư lợi, để có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/05/2019, tại gia đình anh Nguyễn Văn Đở tổ dân phố Bình Sơn Thượng, thị trấn T, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Kh đã có hành vi trộm cắp của gia đình anh Đ các tài sản là 08 con gà gồm 02 con gà trống chọi, trọng lượng mỗi con là 2,7kg, 02 con gà mái chọi, trọng lượng mỗi con là 2,0kg, 04 con gà mái lai chọi, trọng lượng mỗi con là 2,0kg và 01 con chó, có trọng lượng 27 kg. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 3.658.000 đồng.

Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Kh đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1.“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó thể hiện sự xem thường phápluật, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu năm 2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử về tội cướp tài sản và năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của hai bản án trên và đến nay đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm b, h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Kh làm nghề tự do, không có thu nhập, công việc ổn định cũng như không có tài sản nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/6/2019, Nguyễn Văn Kh đã trả cho gia đình anh Nguyễn Văn Đ số tiền 3.658.000đ. Sau khi nhận lại số tiền, người bị hại không yêu cầu Khanh phải bồi thường gì thêm. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đỏ, xám đen, BKS: 88K1 - 8767 đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là xe của chị Nguyễn Thị Th việc Kh sử dụng chiếc xe này để đi trộm cắp chị Th không biết nên cần xem xét trả lại cho chị Th. 01 bao tải xác rắn màu đen không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu CPOMO, loại mũ trùm cằm, màu trắng, hoa văn màu xanh đã cũ và 01 ví giả da màu nâu đã cũ, đã qua sử dụng bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Kh, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 011819 mang tên Đỗ Văn D không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Kh. Trả lại cho Kh số tiền 627.000đ, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu đen.Trả lại chị Nguyễn Thị Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đỏ, xám đen, BKS: 88K1 - 8767 đã cũ.Trả lại cho Kh 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu CPOMO, loại mũ trùm cằm, màu trắng, hoa văn màu xanh đã cũ; 01 ví giả da màu nâu đã cũ, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Kh; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 011819 mang tên Đỗ Văn D; Trả lại cho Kh số tiền 627.000đ (bằng chữ: sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2019 giữa Công an huyện Sông Lô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu 200.000đ (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người bị hại chị Nguyễn Thị Th1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ