- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Bao Q - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bảo Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án số: 20/2019/HSPT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Ngày: 04/3/2019
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƯƠNG MỸ LINH
Các Thẩm phán:
1/ Ông NGUYỄN ANH
2/ Bà LÊ THỊ HIỀN
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH – Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh KH
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông VÕ
VĂN THÀNH - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 208/2018/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Bảo Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh KH.
- Bị cáo có kháng cáo:
TRẦN BẢO Q - Sinh ngày 30/10/1997 tại KH
Nơi cư trú: Thôn T, xã CTB, huyện C, tỉnh KH
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Trần Minh H và bà: Nguyễn Thị N
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/8/2015, Trần Bảo Q chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 79N4-4332 của gia đình lưu hành trên đường liên xã theo hướng CHN – Quốc lộ 1A. Khi đến trước quán “Cây Táo” thuộc thôn L, xã CTB, huyện C, Q thấy phía trước ở phần đường ngược chiều có xe mô tô biển số 51 8-8036 do Trương Quang T trú tại thôn TS, xã CTB, huyện C điều khiển đang chạy loạng choạng ở giữa đường đến hướng xe Q. Sợ va chạm nên Q điều khiển xe chạy sang bên trái đường của Q đang chạy để tránh thì lúc này ông T điều khiển xe vào phần đường phải theo hướng lưu hành của xe ông T làm hai xe mô tô va chạm vào nhau. Hậu quả ông T bị thương nặng và tử vong vào ngày 25/8/2015, Q bị thương, hai xe bị hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 102/GĐHS-TTPY ngày 31/3/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh KH kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Trương Quang T do chấn thương sọ não.
Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2016/HSST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh KH đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Trần Bảo Q 2 năm 6 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngày 01/6/2016, bị cáo Trần Bảo Q có đơn kháng cáo xin giảm mức bồi thường thiệt hại. Ngày 06/6/2016, đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại.
Bản án hình sự phúc thẩm số 165/2016/HSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh KH đã quyết định: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ngày 19/12/2017, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐN đã có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2017/KN-HS với nội dung: kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm số 165/2016/HSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh KH. Đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐN xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án hình sự phúc thẩm số 165/2016/HSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh KH và toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 19/2016/HSST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh KH, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Quyết định giám đốc thẩm số 11/2018/HS-GĐT ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐN đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 396 Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy bản án hình sự phúc thẩm số 165/2016/HSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh KH và bản án hình sự sơ thẩm số 19/2016/HSST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh KH; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C để xét xử lại theo thủ tục chung.
Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh KH đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Trần Bảo Q 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, nhưng được trừ vào thời gian đã chấp hành án trước là 14 tháng 16 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 24/9/2018, bị cáo Trần Bảo Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Bảo Q giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Trần Bảo Q xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của kháng cáo:
Đơn kháng cáo được bị cáo Trần Bảo Q nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện C vào ngày 21/9/2018. Theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Bảo Q thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 22/8/2015, bị cáo Trần Bảo Q điều khiển xe máy biển kiểm soát 79N4-4332 không có giấy phép lái xe, đi không đúng phần đường quy định, đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 51 8-8036 gây tai nạn dẫn đến hậu quả làm người bị hại Trương Quang T chết do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của công dân, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng đối với bị cáo theo quy định của pháp luật; đồng thời bị cáo kháng cáo cho rằng gia đình bị cáo có công với cách mạng nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định đây là tình tiết bị cáo nêu trong đơn kháng cáo bổ sung do nhầm lẫn. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo mức hình phạt 18 tháng tù (dưới mức khởi điểm của khung hình phạt) là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác để xem xét nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Trần Bảo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bảo Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999;
Xử phạt bị cáo TRẦN BẢO Q 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành án là 1 năm 2 tháng 16 ngày tù.
2/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Trần Bảo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh KH - Công an TX NH - VKSND TX NH - Chi cục THADS TX NH - TAND TX NH - Sở Tư pháp tỉnh KH - Vụ GĐKT1 - TANDTC - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) LÂM VƯƠNG MỸ LINH |