- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cấp tài sản Đoàn Minh X và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2019/HS-ST Ngày 06-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Sơn Tây;
Ông Lê Quang Xẹt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Đoàn Minh X, sinh năm 1992, tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã X Trường, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Minh Th và bà Phan Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-10-2018 cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Hoàng Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-10-2018 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp G, xã V, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Ông Hà Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn M, xã X Hương, huyện Lạng Giang, tĩnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1989; địa chỉ: Số V, đường N, khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Đặng Hoài S, sinh năm 1986; địa chỉ: Nhà trọ Y, khu phố R, phường F, thị xã J, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Bùi Ngọc X, ông Phạm Thanh Nh, bà Nguyễn Thị Tr; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22-10-2018, T điều khiển xe mô tô biển số 37H8-1631, chở X đi từ địa bàn thị xã J, tỉnh Bình Dương về xã V, thị xã T, tỉnh Bình Dương với mục đích là tìm tài sản không người trông coi để chiếm đoạt. Khi đi ngang qua khu nhà trọ Ph thuộc ấp I, xã V, thị xã T, Bình Dương thì X và T nhìn thấy phòng số 10 do bà Nguyễn Hồng Th thuê để ở, cửa phòng đang khóa và không có người ở trong phòng. Lúc này, X và T nảy sinh ý định phá ổ khóa phòng số 10 tìm tài sản để trộm cắp. Thực hiện ý định, T dừng xe 37H8– 1631 phía trước phòng số 10, còn X dùng một cái búa bằng kim loại (dài khoảng 30cm do X mang theo) phá ổ khóa. Khi phá được ổ khóa, X đi vào bên trong phòng số 10 tìm tài sản để chiếm đoạt thì bị ông Bùi Ngọc T đang ở phòng trọ số 08 nhà trọ Ph phát hiện X đang ở trong phòng số 10 nên đã tri hô, thấy vậy T điều khiển xe 37H8-1631 chở X chạy về hướng khu công nghiệp Vsip 2 mở rộng để chạy thoát, ông Bùi Ngọc T điều khiển xe mô tô đuổi theo và cùng ông Phạm Thanh H bắt giữ được T và X giao Công an xã Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên.
Tại Công an xã Vĩnh Tân Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 05-10-2018, X điều khiển xe mô tô biển số 98L7–2216 chở T, đi đến chợ Phú Chánh thuộc xã Phú Chánh, thị xã Tân Uyên để mua đồ ăn. Khi đi qua khu nhà trọ của ông Nguyễn Văn Th làm chủ thì X và T nhìn thấy dãy trọ của ông Nguyễn Văn Th không có người. Lúc này, X bảo T là phá ổ khóa cửa phòng số 02 rồi tìm tài sản để chiếm đoạt, T đồng ý. X dùng 01 cái búa bằng kim loại (dài khoảng 30cm do X mang theo) rồi phá ổ khóa phòng số 02 còn T đứng trước phòng số 01 để cảnh giới cho X. Do trong phòng số 02 không có tài sản có giá trị nên X tiếp tục dùng búa phá ổ khóa phòng số 01 do bà Nguyễn Thị Th thuê ở. Khi đi vào trong phòng số 01 thì X lấy 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch và 01 máy chụp hình nhãn hiệu Nikon D7000. Ngày 06-10-2018, X gọi điện thoại cho Nguyễn Văn U, để nhờ U bán giùm 01 máy ảnh nhãn hiệu Nikon D7000, nghe vậy U đồng ý và bảo X mang máy ảnh đến cho U kiểm tra máy. Khi đến nơi thì U không có nhà nên X đưa máy ảnh cho bà Nguyễn Thị Tr là mẹ ruột của U. Ngày 07-10-2018, U bán chiếc máy ảnh này được 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) và U gọi điện thoại cho X xuống nhà U để lấy tiền. Khi X đến nhà U để lấy tiền thì gặp bà Tr, bà Tr đưa cho X số tiền là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng), còn số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) U giữ lại là tiền huê hồng U bán được chiếc máy ảnh. Sau khi lấy được số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng) thì X đưa cho T số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Ngày 20-10-2018, X và T mang 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch bán cho ông Đặng Hoài S với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Công an xã Vĩnh Tân tiến hành tạm giữ vật chứng và các tài liệu đồ vật có liên quan gồm: 01 xe mô tô biển số 98L7 – 2216 và xe mô tô biển số 37H6 – 1631; số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) do Đoàn Minh X giao nộp; 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch do Đặng Hoài S giao nộp.
Sau đó Công an xã Vĩnh Tân chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng, tài liệu đồ vật liên quan cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền. Đối với cái búa bằng kim loại (dài khoảng 30 cm) sau khi xảy ra vụ việc X vứt bỏ cái búa này tại khu dân cư Vsip 2 mở rộng thuộc xã Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tiến hành truy tìm cái búa nhưng không tìm thấy nên lập biên bản thu giữ không T.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 262/KLTS – TTHS ngày 23-10-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch và 01 máy chụp hình nhãn hiệu Nikon D7000 đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 17.050.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá nêu trên.
Bà Th yêu cầu X và T bồi thường số tiền là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng), là giá trị 01 máy chụp hình nhãn hiệu Nikon D7000.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu WELL biển số 37H6 - 1631, X mượn của người em họ tên là Z (không rõ nhân thân, lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông đường cơ giới đường bộ của phòng Cảnh sát giao thông đường bộ công an tỉnh Bình Dương ngày 26-12-2018, xác định xe 37H6-1631 do Nguyễn Khánh D đứng tên chủ sở hữu. Ngày 31-12-2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã tiến hành ra Quyết định Ủy thác điều tra đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An để hỗ trợ xác minh chủ sở hữu xe mô tô nói trên. Đến nay, chưa có kết quả trả lời.
Xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển số 98L7 – 2216, do ông Hà Văn H đứng tên chủ sở hữu. Ông H khai nhận: xe 98L7 – 2216 ông H bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) vào năm 1997 và không nhớ là bán cho ai. Quá trình điều tra X khai nhận xe 98L7 – 2216, X được ông Nguyễn Hữu Th cho tặng, xe không có giấy đăng ký chủ sở hữu. Ông Th khai xe 98L7 – 2216 do Th mua của một người bạn tên K (không rõ lai lịch) vào tháng 12-2017 với giá 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) và xe không có giấy chứng nhận đăng ký chủ sở hữu. Ngày 14-12-2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tra cứu tại Phòng cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Bình Dương xác định không có trong dữ liệu xe máy vật chứng.
Cáo trạng số 21/CT-VKS.TU ngày 29-01-2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đoàn Minh X mức hình phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Th yêu cầu X và T bồi thường số tiền là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng) là có căn cứ. Tuy nhiên, do số tiền thu giữ vật chứng 4.000.000 đồng là số tiền có được từ việc chiếm đoạt tài sản nên trả lại cho bà Th. Do vậy, thiệt hại còn lại của bà Th là 6.500.000 đồng nên buộc bị cáo X và T liên đới trả cho bà Th số tiền còn lại là 6.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự, tuyên: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 98L7 – 2216; đối với số tiền 4.000.000 đồng là số tiền có được từ việc chiếm đoạt tài sản của bà Th thu hồi được nên trả lại cho bà Th.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đối với yêu cầu bồi thường của bị hại, các bị cáo đồng ý bồi thường.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho bà Th giá trị 01 máy ảnh nhãn hiệu Nikon D7000 do không thu hồi được với số tiền theo định giá là 10.500.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, bà Th yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết đối với các bị cáo theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng, các bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai báo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo trước sau đều thống nhất với nhau và phù hợp vơi biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 05-10-2018, tại ấp 4, xã Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch và 01 máy chụp hình nhãn hiệu Nikon D7000, giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.050.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) đã đủ yếu tố cấu T tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhưng vì tư lợi nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội và mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát thị xã Tân Uyên truy tố đối với bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Về vai trò: Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, bị cáo X là người đề xuất, rủ rê, chuẩn bị công cụ và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, sau khi chiếm đoạt tài sản, bị cáo X là người chủ động tìm người để tiêu thụ tài sản chiếm đoạt và hưởng giá trị nhiều hơn; bị cáo T là người giúp sức, canh giới cho bị cáo X nên vai trò của bị cáo X là cao hơn bị cáo T. Do vậy khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc để có một hình phạt tương xứng với vai trò của từng bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Đối với ông Đặng Hoài S có hành vi mua 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch của các bị cáo, ông Sỹ không biết tài sản này là do các bị cáo chiếm đoạt của bà Th mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên không đề nghị xử lý, là phù hợp.
Đối với ông Nguyễn Văn U có hành vi nhận bán giùm cho X 01 máy chụp hình nhãn hiệu Nikon D7000, U không biết tài sản này do X và T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên không đề nghị xử lý, là phù hợp.
Đối với hành vi các bị cáo X và T dùng búa phá cửa phòng trọ của bà Nguyễn Hồng Th vào ngày 22-10-2018 để tìm tài sản chiếm đoạt, do hành vi của X và T bị phát hiện và bị bắt, tài sản của bà Nguyễn Hồng Th không bị mất và bà Nguyễn Hồng Th không yêu cầu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên không xem xét, là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Th yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị máy ảnh nhãn hiệu Nikon D7000 theo giá định giá là 10.500.000 đồng. Xét, yêu cầu của bà Th là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 587,589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, do số tiền thu giữ vật chứng có 4.000.000 đồng là số tiền có được từ việc chiếm đoạt tài sản của bà Th thu hồi được nên trả lại cho bà Th. Do vậy, buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bà Th số tiền còn lại là 6.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Ngày 31-12-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 42 và trả lại 01 chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung 40 inch cho bà Th, là phù hợp.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu WELL biển số 37H6 – 1631, Cơ quan cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên sẽ tiếp tục làm rõ chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô này và xử lý sau, là phù hợp.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển số 98L7 – 2216, bị cáo X và T sử dụng là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xe không rõ nguồn gốc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; đề nghị về giải quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 47, Điều 48, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 574, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2. Xử phạt bị cáo Đoàn Minh X 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-10-2018.
1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-10-2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Th số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triện năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyết định chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL (kiểu sang Dream) màu nâu, số khung: VPBDCC013PD023182, số máy: VPD0R150FMG000231182, biển số 98L7 – 2216 (không kính chiếu hậu, mặt nạ phía trước).
- Trả lạ cho bà Nguyễn Thị Th số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 31-01-2019.
(Thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)
4. Về án phí:
- Bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đoàn Minh X và Nguyễn Văn T phải chịu 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày, nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Công an thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |