vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ an hinh su - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự; Điều 173 Bộ luật h nh sự; Điều 38 Bộ luật h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 20/2019/HS-ST;
Ngày: 19-3-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ t a phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Long;

2/ Bà Dương Thị Hương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký T a án nh n d n thành phố M Tho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M Tho – tỉnh Tiền iang tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Hồng Liên - i m sát vi n.

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại tr s T a án nh n d n thành phố M Tho, xét xử công khai v án h nh sự sơ th m th lý số 06 2019 HSST ngày 11 tháng 01 năm 2019, Quyết định đưa v án ra xét xử số 18 2019 QĐXXST-HS ngày 19/02/2019 và Quyết định hoãn phi n t a số 05/2019/HSST-QĐ ngày 05 3 2019 đối với các ị cáo:

Lê Hữu T sinh năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: số 3E đường N, phường 8, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; tr nh độ học vấn 03 12; d n tộc: kinh; giới tính: nam; con ông L Tiến D (đã chết) và à L Thị X sinh năm 1966; ị cáo có chưa có vợ, chưa có con; tiền sự: 01 lần; tiền án: không có. Bị cáo ị ắt tạm giữ ngày 15 10 2018, tạm giam ngày 18 10 2018. Hiện ị cáo đang ị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố M Tho có mặt tại phi n t a.

* Bị hại:

1. Nguyễn Thị B, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Trú tại: số 8 16A đường Đ, phường 8, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.

2. Huỳnh Chí T, sinh năm 2004 (vắng mặt);

Trú trại: ấp M, xã M, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật của ị hại Huỳnh Chí T: Võ Thị im L sinh năm 1980 (vắng mặt);

Trú trại: ấp M, xã M, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- 2 -

- Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1971 (vắng mặt); Trú trại: ấp M, xã M, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn iến tại phi n t a, nội dung v án được tóm tắt như sau: L Hữu T là người có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Từ ngày 30/6/2018 đến ngày 22 8 2018, L Hữu T thực hiện 02 v trộm cắp tài sản: V thứ nhất: hoảng 19 giờ ngày 30 6 2018, ị cáo T đi ộ từ ph ng trọ đến gặp ạn tên Tý A, Tý E, B, C nói chuyện được một lúc th cả nhóm thống nhất mua ma túy về ph ng trọ của T sử d ng. Sau khi sử d ng ma túy, Tý A, Tý E, B, C ra về còn T lại ph ng trọ. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T đi ộ qua cửa hàng án đồ điện gia d ng “Đ” tại địa chỉ số 8 16A đường Đ, phường 8, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang do chị Nguyễn Thị B làm chủ. Lúc này, ị cáo T nh n thấy xe đạp hiệu Brigestore màu hồng nhạt của chị B dựng trước cửa nhà, không có người trông coi n n ị cáo T đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm xe đạp rồi đem về ph ng trọ của T cất giấu. Đến 21 giờ cùng ngày, Tý E, Tý A, B, C đến ph ng trọ gặp T; T đưa xe đạp điện cho Tý A và Tý E đem đi án. Sau đó, Tý A và Tý E quay lại nói bán xe được 250.000 đồng và đưa tiền cho ị cáo T. Bị cáo T đưa lại cho Tý A và Tý E 200.000 đồng đ mua ma túy sử d ng chung, c n lại 50.000 đồng ị cáo Thắng giữ lại đ ti u xài cá nh n. hi phát hiện mất xe, chị B đã tr nh áo Công an phường 8, thành phố M Tho. Bị cáo T không rõ họ t n, địa chỉ của Tý A, Tý E, C, B và người mua xe n n Cơ quan điều tra không triệu tập ghi lời khai được, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. Theo ản kết luận định giá tài sản số 132 ngày 10/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M Tho xác định: Xe đạp nhãn hiệu Brigestore có giá trị là 480.000 đồng. V án thứ hai: hoảng 14 giờ 40 phút ngày 22/8/2018, L Hữu T đi ộ qua xư ng tôn “N”, địa chỉ T, tổ 4B, khu phố 2 , phường 9, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. Tại đ y, ị cáo T nh n thấy xe đạp điện hiệu Asama màu đen dựng trong xư ng không người trông coi n n T lén lút đi vào trong xư ng lấy trộm đem ra ngoài và án cho người khác được 1.500.000 đồng ti u xài cá nh n. Xe đạp điện tr n là của chị Huỳnh Ngọc H cho em Huỳnh Chí T mượn làm phương tiện đi lại. Đến 17 giờ 30 phút ngày 22/8/2018, T phát hiện mất xe n n đến Công an phường 9 tr nh áo. Cơ quan điều tra không thu giữ được tài sản ị mất trộm. Do ị cáo T không xác định được họ t n, địa chỉ của người mua xe n n Cơ quan điều tra không triệu tập ghi lời khai được, hiện đang tiếp t c điều tra làm rõ xử lý sau. Theo ản kết luận định giá tài sản số 158 ngày 10/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M Tho xác định: Xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA có giá trị là 2.000.000 đồng. Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Viện ki m sát nh n d n thành phố M Tho đã truy tố ị cáo L Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự năm 2015, được sửa đổi ổ sung năm 2017.

- 3 -

Tại phi n t a, đại diện Viện ki m sát nh n d n thành phố M Tho vẫn giữ nguy n quan đi m về tội danh và khung h nh phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng đi m và đi m s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự xử phạt ị cáo L Hữu T từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật h nh sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự, đề nghị tịch thu ti u hủy 01 áo sơ mi tay màu hồng có sọc trắng, 01 quần jean màu xanh do ị cáo L Hữu T giao nộp.

Về trách nhiệm d n sự: Bị cáo L Hữu T đã ồi thường cho ị hại Huỳnh Chí T số tiền 3.500.000 đồng. Bị hại Huỳnh Chí T đã nhận lại tiền và không y u cầu g khác n n đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Bị hại Nguyễn Thị B không yêu cầu ị cáo L Hữu T ồi thường g n n đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Phát i u tự ào chữa của ị cáo L Hữu T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của m nh và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ h nh phạt cho ị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố t ng: Hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M Tho, Điều tra vi n, Viện ki m sát nh n d n thành phố M Tho, i m sát vi n trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng th m quyền, tr nh tự thủ t c đúng theo quy định của Bộ luật tố t ng h nh sự. Trong quá tr nh điều tra và tại phi n t a, ị cáo, ị hại và người có quyền lợi, nghĩa v li n quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến g về hành vi và quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng và người tiến hành tố t ng. Do đó, hành vi và quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng và người tiến hành tố t ng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phi n t a, ị cáo L Hữu T đã khai nhận về hành vi mà ị cáo đã thực hiện đúng với nội dung ản cáo trạng của Viện ki m sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ s đ kết luận: Từ ngày 30 6 2018 đến ngày 22 8 2018, L Hữu T thực hiện 02 v trộm cắp tài sản. V thứ nhất: hoảng 20 giờ 15 phút ngày 30 6 2018, ị cáo T đi ộ qua cửa hàng án đồ điện gia d ng “Đ” tại địa chỉ số 8 16A đường Đ, phường 8, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang do chị Nguyễn Thị B làm chủ. Lúc này, ị cáo T nhìn thấy xe đạp và lợi d ng sự mất cảnh giác của chị B dựng trước cửa nhà, không có người trông coi n n ị cáo T đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm xe đạp rồi đem về ph ng trọ của ị cáo cất giấu. Đến 21 giờ cùng ngày, ạn của ị cáo T gồm: Tý E, Tý A, B, C đến ph ng trọ gặp T. Bị cáo T đưa xe đạp điện cho Tý A và Tý E đem đi án. Sau đó, Tý A và Tý E quay lại nói án xe được 250.000 đồng và đưa tiền cho ị cáo T. Bị cáo T đưa lại cho Tý A và Tý E 200.000 đồng đ mua ma túy sử d ng chung, c n lại 50.000 đồng ị cáo T giữ lại đ ti u xài cá nh n. V án thứ hai: hoảng 14 giờ 40 phút ngày 22 8 2018, ị cáo T đi ộ qua xư ng tôn “N”, địa chỉ Tr, tổ 4B, khu phố 2 , phường 9, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. Tại đ y, ị cáo T nh n thấy xe đạp điện hiệu Asama màu đen dựng trong xư ng không người trông coi n n ị cáo T đã lén lút đi vào trong xư ng lấy trộm đem ra ngoài và án cho người khác được 1.500.000 đồng ti u xài cá nh n. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 2.480.000 đồng. Bản th n ị cáo T có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự và nhận thức được

- 4 -

hành vi của m nh là vi phạm pháp luật nhưng ị cáo vẫn cố t nh thực hiện n n ị cáo T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự. Viện ki m sát nh n d n thành phố M Tho đã đưa ra chứng cứ uộc tội và truy tố ị cáo T về tội phạm n u tr n là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của ị cáo đã x m phạm trực tiếp đến quyền s hữu tài sản của công d n được pháp luật Nhà nước ta ảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà c n g y hoang mang làm cho nh n d n không an t m lao động, sản xuất, g y mất trật tự xã hội tại địa phương nơi xảy ra v án. Do vậy, cần phải có một h nh phạt nghi m khắc là cách ly ị cáo ra khỏi xã một thời gian đủ đ cải tạo, giáo d c cho các ị cáo iết tôn trọng pháp [4] Do ị cáo T không xác định được họ t n đầy đủ và địa chỉ của Tý A, Tý E, B, C, người mua xe đạp và người mua xe đạp điện n n Cơ quan điều tra không triệu tập ghi lời khai được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp t c điều tra làm rõ đ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật. [5] Về nh n th n: Bị cáo L Hữu T có một tiền sự. Ngày 03 5 2018, ị cáo T ị Công an phường 8, thành phố M Tho xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 48 QĐ-XPVPHC). Bị cáo không có tiền án.

T nh tiết giảm nhẹ: Trong quá tr nh điều tra và tại phi n t a, ị cáo T thật thà khai áo, ăn năn hối cải và ị cáo đã ồi thường cho ị hại n n Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các ị cáo theo quy định đi m và đi m s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017.

T nh tiết tăng nặng: Từ ngày 30 6 2018 đến ngày 22 8 2018, ị cáo T đã thực hiện hai v trộm cắp tài sản n n ị cáo T ị áp d ng t nh tiết tăng nặng là phạm tội hai lần tr l n theo quy định tại đi m g khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sư.

Về trách nhiệm d n sự: Đối với xe đạp của chị hiệu Brigestore của chị Nguyễn Thị B đã ị mất và không t m được xe. Bị hại B không có y u cầu ồi thường g khác n n Hội đồng xét xử không xem xét. Trong quá tr nh điều tra, ị cáo T đã ồi thường cho ị hại Huỳnh Chí T số tiền 3.500.000 đồng và ị hại T m cũng đã nhận tiền và không y u cầu g khác n n Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng v án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M Tho đã thu giữ: 01 áo sơ mi tay màu hồng có sọc trắng, 01 quần jean màu xanh do L Hữu T giao nộp. Đ y là quần áo của ị cáo T khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và giá trị tài sản không lớn n n cần tịch thu ti u hủy. Việc xử lý vật chứng phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật h nh sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự n n Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời đề nghị của i m sát vi n tại phi n t a về mức h nh phạt là có căn cứ pháp luật n n Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của i m sát vi n.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

V các lẽ tr n;

QUY T ĐỊNH:

Tuy n ố bị cáo L Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- 5 -

Căn cứ đi m và đi m s khoản 1 Điều 51, đi m g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự năm 2015, sửa đổi ổ sung năm 2017.

Xử phạt ị cáo L Hữu T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo ị ắt tạm giữ là ngày 15 10/2018.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật h nh sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự.

Tịch thu ti u hủy: 01 áo sơ mi tay màu hồng có sọc trắng, 01 quần jean màu xanh do L Hữu T giao nộp. Hiện nay các vật chứng tr n đang ị giữ tại Chi c c thi hành án d n sự thành phố M tho (Theo i n ản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2018)

Về trách nhiệm d n sự: Ghi nhận việc anh Huỳnh Chí T đã nhận số tiền 3.500.000 đồng và không y u cầu ồi thường g khác.

Ghi nhận ị hại Nguyễn Thị B không y u cầu ồi thường.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố t ng h nh sự và đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 về mức thu án phí, lệ phí T a án.

Bị cáo L Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự sơ th m.

Bị cáo có quyền kháng cáo ản án sơ th m trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuy n án đ y u cầu T a án nh n d n tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ t c phúc th m. Riêng ị hại, người đại diện theo pháp luật của ị hại và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phi n t a, có quyền kháng cáo ản án sơ th m trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được ni m yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ