- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Phúc Đ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Phúc Đ phạm hai tội: “Giết người” và “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNHTUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2019/HS-ST Ngày 27-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Sáng, bà Trịnh Hồng Hạnh và bà Lê Đào Bích.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hà -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Hứa Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Hà Phúc Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi thường trú: Thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Phúc Đ1, sinh năm 1965 và bà Hà Thị L, sinh năm 1964; có vợ: Hà Thị Hồng L2, sinh năm 1994; con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
-Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ma NK - Luật sư Văn phòng Luật sư NK thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang.
Địa chỉ: Số nhà 04, ngõ 195, đường P, tổ 28, phường P, huyện T, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Lý H, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: TỔ V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị L, sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Người làm chứng
1. Chị Hà Thị Hồng L1, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
2. Ông Nguyễn Dân L2, sinh năm 1949.
Nơi cư trú: TỔ V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
3. Anh Lục Kim H1, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Thôn N2, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
4. Anh Đinh Văn T, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
5. Anh Lều Quang C, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
(Anh Thiên và anh Chung vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 18/3/2019, Hà Phúc Đ trú tại thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, gọi điện cho Nguyễn Lý H (làm nghề lái taxi), sinh năm 1990 trú tại tổ V, thị trấn V, huyện C đến đón Đ từ cây xăng xã X ra thị trấn V, huyện C. Anh H điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Kia Forte, biển kiểm soát 22A-081.94 đến đón Đ, đi được khoảng 01km thì Đ bảo H không đi nữa, anh H đưa Đ quay lại. Sau đó Đ gọi điện cho Lục Kim H1 (bạn của Đ) trú tại thôn N2, xã H, huyện C, nhờ anh H1 chở Đ đến nhà ông Hà Kim C1 (bố vợ của Đ) trú tại thôn Đ, xã H, huyện C ăn cơm tối, H1 đồng ý và điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 22A-098.50 đến khu vực cây xăng xã X, huyện C đón Đ. Trên đường đi Đ nghĩ do đang vay nợ số tiền 400.000.000 đồng của nhiều người chưa có tiền trả, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ôtô của anh H bán lấy tiền trả nợ bằng thủ đoạn lừa anh H chở sang thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để đòi nợ, nếu có cơ hội sẽ giết anh H để cướp xe ôtô.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm tại nhà ông C1 xong, Đ và H1 đi về đến xã X, huyện C vào quán ngồi uống nước. Khoảng 21 giờ, Đ nhắn tin hẹn thuê anh H đi Hà Nội, anh H đồng ý. Sau đó Đ nhờ H1 chở Đ về nhà, Đ vào nhà, lên tầng 3 lấy 01 khẩu súng tự chế dài 20cm, nòng súng dài 4,4cm (đã lắp sắn 06 viên đạn) dắt vào cạp quần trước bụng; 01 bình xịt hơi cay để vào túi áo khoác bên phải (súng tự chế và bình xịt hơi cay Đ mua trên mạng từ trước của người không rõ địa chỉ); 01 giấy phép lái xe và 8.000.000 đồng, rồi tiếp tục nhờ H1 chở Đ đến cổng Trường THCS xã P, huyện C (H1 không biết Đ vào nhà lấy gì). Đến nơi Đ xuống xe, H1 đi về.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/3/2019, Đ điện thoại cho anh H xuống đón Đ, anh H điều khiển ôtô biển kiểm soát 22A-081.94 đến, Đ lên xe và nói với anh H đưa sang thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để lấy tiền rồi sau đó đi Hà Nội, anh H điều khiển xe theo Quốc lộ 3B sang thị trấn B, huyện C. Khi đi đến khu vực đèo B thuộc thị trấn B, huyện C, Đ bảo anh H dừng xe để đi vệ sinh, lúc này Đ định lấy súng ra bắn chết anh H để cướp xe ôtô nhưng sợ nên chưa dám thực hiện, Đ bảo anh H điều khiển xe đi tiếp đến gần khu vực nhà nghỉ “555” thuộc thị trấn B, Đ bảo anh H dừng xe để Đ đi đòi tiền nợ, anh H điều khiển xe đi cách đó một đoạn, Đ đi loanh quanh khoảng 05 phút rồi gọi điện cho anh H đến đón, Đ lên xe và lấy 2.500.000đ trả tiền thuê xe cho anh H, rồi bảo anh H quay về huyện C rồi mới đi Hà Nội.
Anh H điều khiển xe ôtô theo đường cũ quay về, khi đi qua đèo K (Khoảng 150m) thuộc thôn T, xã Y, huyện C, Đ bảo H dừng xe để đi vệ sinh, lúc này khoảng 04 giờ ngày 19/3/2019, Đ xuống xe cầm theo điện thoại Samsung, để lại điện thoại di động Oppo của mình ở ghế phụ trong xe ôtô, Đ đi cách xe ôtô khoảng 05m thì dùng điện thoại Samsung gọi vào điện thoại Oppo mục đích để anh H thấy có điện thoại thì sẽ gọi Đ. Đúng như kế hoạch của Đ, anh H thấy điện thoại của Đ có cuộc gọi đến liền gọi Đ vào nghe điện thoại (lúc này anh H ngồi ở ghế lái trong xe), Đ mở cửa xe vào ngồi sau ghế lái, anh H đưa điện thoại, Đ cầm điện thoại giả vờ nghe và nói “Chờ anh một tý” rồi tắt máy. Sau đó Đ hỏi anh H “Anh có gối không để em nằm ở phía sau”, anh H nói “Không có, anh đi đón dâu ở Thái Bình về dọn đồ để hết ở ngoài rồi”. Lợi dụng lúc anh H không để ý, Đ tay trái lấy súng dắt ở cạp quần ra, giơ lên hướng nòng súng sát đầu anh H bắn một phát trúng vào vùng đầu phía sau (khi đó đầu của anh H đang quay sang bên phải), bị bắn anh H dùng hai tay ôm đầu cúi xuống và nói “Đ ơi làm sao thế, đừng giết anh, con anh mới được năm tháng tuổi”, Đ tay phải lấy bình xịt hơi cay trong túi áo khoác ra xịt vào mặt anh H, rồi đặt bình xịt hơi cay xuống sàn xe ôtô, đồng thời tay phải cầm súng lên đạn nhằm vào đầu anh H bắn phát thứ hai nhưng không trúng do anh H đang cúi đầu. Anh H mở cửa xe bỏ chạy, Đ cầm súng và bình xịt hơi cay đuổi theo khoảng 10m nhưng không kịp, nên Đ quay lại lấy xe ôtô của H và điều khiển xe ôtô đi về hướng huyện C.
Trên đường đi Đ kiểm tra trong xe ôtô thấy điện thoại XIAOMI 5Plus của anh H, Đ cầm điện thoại cho vào túi quần. Đ điều khiển xe đến khu vực thôn N, xã N, huyện C, Đ ném khẩu súng xuống ven đường Quốc lộ 2C (C - N) thuộc thôn N, xã N, huyện C. Do thấy anh H không chết và không biết chỗ bán xe ôtô, nên Đ điều khiển xe vào đường bê tông liên thôn thuộc thôn M, xã N, huyện C để xe ôtô lại, rồi cầm chía khóa xe và điện thoại của H lên rừng bỏ trốn. Trên đường bỏ trốn Đ đã làm rơi chiếc điện thoại của anh H không xác định được vị trí.
Đối với anh H sau khi bị Đ bắn và xịt hơi cay, anh H chạy đến nhà anh Đinh Văn T trú tại thôn T, xã Y, huyện C mượn điện thoại của anh T gọi cho ông Nguyễn Dân L2 (bố đẻ của H) trú tại tổ V, thị trấn V, huyện C kể lại sự việc và bảo ông L2 đến Công an huyện C trình báo.
Quá trình bỏ trốn Đ nhắn tin cho chị Hà Thị Hồng L1 (vợ của Đ) với nội dung thông báo vị trí Đ để xe ôtô đã cướp được của anh H, sau đó L1 cung cấp thông tin vị trí để xe ôtô cho Cơ quan điều tra. Đến 21 giờ ngày 21/3/2019, Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú.
Ngày 21/3/2019, Cơ quan điều tra đã truy tìm và thu giữ khẩu súng tự chế Đ dùng để bắn anh H. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu XIAOMI 5Plus của H đã truy tìm nhưng không có kết quả.
- Tại Kết luận giám định số 265/GĐHS (PC09) ngày 09/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Các dấu vết màu nâu đỏ thu tại các vị trí cánh cửa trước, cánh cửa sau bên trái, trên bọc ghế phụ, trên bọc vô lăng tay lái của xe ôtô biển kiểm soát 22A-081.94 là máu của Nguyễn Lý H, thuộc nhóm máu O.
- Tại Kết luận số 08/KL-HĐTTHS ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Xe ôtô biển kiểm soát 22A-081.94 nhãn hiệu Kia Forte trị giá là 265.200.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5Plus trị giá là 3.217.000đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 268.417.000đ (Hai trăm sáu tám triệu bốn trăm mười bảy nghìn đồng).
- Tại Bản kết luận giám định số 1702/C09-P3 ngày 26/4/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:
+ Khẩu súng và ổ tiếp đạn lắp thành một khẩu súng hoàn chỉnh. Khẩu súng này là súng ngắn tự chế ổ quay, bắn đạn cỡ 5,6mm, là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, không phải vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng này bắn đạn vào người ở khoảng cách đến 20m có thể gây sát thương (chết hoặc bị thương);
+ Bên trong ổ chứa đạn nêu trên có 02 vỏ đạn của loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm;
+ 04 (bốn) viên đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm sử dụng để bắn được cho khẩu súng trên;
+ 02 (hai) mẩu kim loại là đầu đạn của loại đạn cỡ 5,6mm được bắn ra từ khẩu súng trên.
- Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 116/2019/TgT ngày 28/5/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận thương tích của Nguyễn Lý H: Vết thương vùng chẩm có dị vật là viên kim loại găm vào xương gây mẻ bản ngoài xương sọ, đã phẫu thuật lấy bỏ dị vật, để lại sẹo dài 2,5cm; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06% (sáu phần trăm). Cơ chế gây thương tích do hỏa khí gây nên.
Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Hà Phúc Đ về các tội: Giết người theo điểm g khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và Cướp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Phúc Đ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Phúc Đ phạm hai tội “Giết người” và “Cướp tài sản”. Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 123; điểm a khoản 3 Điều 168; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 15; Điều 57 đối với tội Giết người; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Hà Phúc Đ 13 đến 14 năm tù về tội Giết người; 12 năm 06 tháng đến 13 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hà Phúc Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 25 năm 06 tháng đến 27 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/3/2019.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại các khoản chi phí hợp lý trong quá trình cấp cứu và điều trị, tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động để sung quỹ Nhà nước; các vật chứng khác đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí với tội danh, điều luật Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với cả 02 tội cho bị cáo ở mức thấp nhất.
Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì khác.
Bị hại Nguyễn Lý H trình bày: Sau khi sự việc bị cáo dùng súng bắn 2 phát vào đầu anh, anh bỏ chạy vào nhà anh T rồi bị cáo cướp xe ô tô và điện thoại của anh để trên xe, sau đó anh đã mượn điện thoại của anh T để gọi về cho gia đình đến đưa anh vào bệnh viện đa khoa huyện C cấp cứu và điều trị từ ngày 19/3/2019 đến 22/3/2019 ra viện. Anh đề nghị bị cáo phải bồi thường cho anh các khoản chi phí như sau:
- Chi phí viện phí 6.464.969đ;
- Tiền mua bộ chìa khóa điện xe ô tô 5.000.000đ; mua đền cho anh chiếc điện thoại bị cáo đã cướp trị giá 4.000.000đ.
- Sau khi anh bị bắn, gia đình đã phải thuê 02 xe ô tô tải; 01 xe ô tô 5 chỗ và 06 người đi tìm để đưa anh về cấp cứu: tiền xăng 1.000.000đ, tiền công 6 người x 200.000đ/người = 1.200.000đ;
- Tiền ăn bồi dưỡng tại bệnh viện và sau khi ra viện khoảng 1 tháng rưỡi là 3.000.000đ;
- Tiền thuốc kháng sinh, kháng viêm tự mua về điều trị tại nhà= 3.000.000đ;
- Tiền thuốc bổ các loại + sữa tự mua): 2.400.000đ;
- Tiền công 2 người chăm sóc anh tại bệnh viện x 7 ngày x 200.000đ/ngày = 2.800.000đ;
- Tiền công 1 người chăm sóc khi điều trị tại nhà x 30 ngày x 150.000đ/ngày = 4.500.000đ.
- Thời gian triệu tập của Công an huyện C, Công an tỉnh Tuyên Quang tính đến ngày 27/8/2019 = 10 ngày x 150.000đ/ngày = 1.500.000đ;
- Xe ô tô bị giữ niêm phong thời gian từ 19/3/2019 đến 19/5/2019 = 62 ngày, tính ngày xe hoạt động 25 ngày/tháng = 50 ngày x 600.000đ/ngày = 30.000.000đ;
- Xe bị giữ lâu nên ắc quy bị hỏng = 1.500.000đ;
- Bồi thường tổn thất về tinh thần = 60.000.000đ;
Tổng cộng = 126.364.969đ. Trong đó gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000đ. Đề nghị bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh số tiền 116.364.969đ. Về hành vi của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm theo pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Hà Phúc Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Phúc Đ tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại, những người làm chứng; căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 19/3/2019, tại đèo K trên Quốc lộ 3B thuộc thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Hà Phúc Đ trú tại thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang do nợ tiền của nhiều người nên đã có ý định giết Nguyễn Lý H, sinh năm 1990 trú tại tổ V, thị trấn V, huyện C làm nghề lái xe taxi để cướp xe ôtô của H. Đ đã có hành vi dùng súng tự chế (dài 20cm, nòng súng dài 4,4cm) bắn hai phát vào đầu anh H (01 phát trúng vào vùng đầu phía sau, 01 phát bắn trượt) và dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh H, chiếm đoạt xe ôtô nhãn hiệu Kia Forte, biển kiểm soát 22A-081.94 và điện thoại Xiaomi 5Plus của anh H. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 268.417.000đ (Hai trăm sáu tám triệu bốn trăm mười bảy nghìn đồng), trong đó: Xe ôtô trị giá 265.200.000đồng, điện thoại di động trị giá 3.217.000 đồng. Đối với anh H sau khi bị bắn, hậu quả không chết nhưng bị thương tích, tổn hại 06% (sáu phần trăm) sức khỏe.
Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo Hà Phúc Đ là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực, nhận thức được hành vi của mình nhưng đã coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác.
Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Đối với tội Giết người, bị cáo sử dụng súng bắn bị hại phát thứ nhất trúng vào vùng đầu phía sau của bị hại, sau đó bị hại xin thì bị cáo dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt bị hại rồi tiếp tục lên đạn bắn phát thứ hai vào vùng đầu bị hại nhưng bị trượt, hành vi đó thể hiện sự quyết liệt, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Việc bị hại chưa chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo.
Đối với hành vi cướp tài sản: Mục đích của bị cáo giết bị hại nhằm cướp xe ô tô bán lấy tiền trả nợ. Tuy nhiên, sau khi cướp được xe ô tô nhưng không biết đem đi đâu để tiêu thụ nên đã lái xe để ở khu vực thôn M, xã N, trên xe có chiếc điện thoại di động của bị hại bị cáo cũng lấy nhưng sau đó trên đường bỏ trốn đã bị rơi mất, tổng trị giá tài sản bị cáo cướp được có trị giá 268.417.000đ, trong đó: xe ôtô trị giá 265.200.000đồng, điện thoại di động trị giá 3.217.000 đồng, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.
Hành vi trên đây của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố về hai tội: tội Giết người theo điểm g khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tội Cướp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng: Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với tội Giết người.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động tới gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng chung cho cả 02 tội. Áp dụng cho bị cáo tình tiết phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với tội Giết người.
Về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
Về luận cứ bào chữa của Luật sư: Trên cơ sở nội dung tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Lý H yêu cầu bị cáo Hà Phúc Đ bồi thường tiếp số tiền 116.364.969đồng. Bị cáo không nhất trí bồi thường số tiền trên vì cho rằng vượt quá khả năng của bị cáo,bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét, yêu cầu đòi bồi thường của bị hại, Hội đồng xét xử thấy: Về thu nhập thực tế của bị hại, theo bị hại trình bày làm nghề lái xe con chở khách (xe 05 chỗ), nếu có ai thuê thì chở, bị hại không chứng minh được mức thu nhập ổn định, do vậy cần áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động phổ thông cùng loại (200.000đ/ngày) x 60 ngày do xe bị giữ không hoạt động được để làm căn cứ tính thu nhập bị mất. Đối với yêu cầu đòi bồi thường tiền công do bị Công an, Tòa án triệu tập phải nghỉ lao động không có thu nhập, xét thấy yêu cầu này không có căn cứ nên không chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu về bồi thường của bị hại, cụ thể như sau:
- Tiền viện phí điều trị = 6.469.969đ;
- Tiền thuê xe đi tìm bị hại và chở đến bệnh viện cấp cứu = 1.000.000đ;
- Tiền công 1 người chăm sóc tại bệnh viện: 03 ngày (từ ngày 19/3/2019 đến 22/3/2019 - theo bệnh án) x 200.000đ/ngày = 600.000đ;
- Tiền phục hồi sức khỏe sau khi ra viện = 10.000.000đ;
- Tiền công nghỉ lao động do bị mất thu nhập 60 ngày x 200.000đ/ngày = 12.000.000đ;
- Tiền công 01 người chăm sóc bị hại sau khi ra viện về: 10 ngày x 150.000đ/ngày = 1.500.000đ
- Tiền sửa chữa khóa xe ô tô bị hỏng = 5.000.000đ;
- Tiền bồi thường chiếc điện thoại = 3.217.000đ;
- Tiền thay ắc quy ô tô do xe bị giữ lâu dẫn đến bị hỏng = 1.500.000đ;
- Tiền tổn thất về tinh thần tương ứng 10 tháng lương cơ sởtại thời điểm xét xử: 10 tháng x 1.490.000đ = 14.900.000đ.
Tổng cộng: 56.186.969đ, được trừ đi số tiền gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 46.186.969đ (làm tròn số 46.187.000đ).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L tại phiên tòa không đề nghị bị cáo Hà Phúc Đ phải hoàn trả lại số tiền bà L đã bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Hà Phúc Đ: 01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ “Điện thoại của Hà Phúc Đ”, mép dán mặt sau có 03 chữ ký của Hà Phúc Đ và 01 chữ ký của Lương Ngọc Hải, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “SAMSUNG”, vỏ màu xanh, viền vàng, số Imei: 352403068805530; 352404068805538, trong điện thoại có lắp sim Viettel số thuê bao 0865261077, trên sim có dãy số 8984 0480000375 73211. Nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) khẩu súng loại tự chế dài 20 cm, báng súng ốp gỗ, bên ngoài báng súng quấn băng dính màu trắng, nòng súng dài 4,4cm, bên ngoài nòng súng quấn dây thép, súng không có bộ phận tiếp đạn;
- 01 (một) ổ tiếp đạn (dạng ổ súng côn xoay) hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng, đường kính 3,9cm, chiều cao 2,4cm;
- 02 (hai) vỏ đạn của loại đạn cỡ (5,6 x 15,5mm);
-01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ“Lọ xịt NATO CS-GAS”, mép dán mặt sau có chữ ký của Đinh Thị Lan Hương, chữ ký của Hà Trung Dũng và 02 hình dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, bên trong có 01 (một) lọ xịt màu xanh, nắp đen, nút ấn màu đỏ, nhãn hiệu NATO CS-GAS chiều cao 15cm, đường kính đáy 3,3cm;
- 01 (một) mảnh kim loại màu xám, dài 0,7cm, bản rộng nhất có đường kính 0,8cm;
- 01 (một) mẩu kim loại màu xám đen (kích thước 1,2 x 0,3 x 0,4)cm;
- 01 (một) bọc vô lăng ô tô màu đen đã qua sử dụng;
- 01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ “Dấu vết đường vân thu ở gương chiếu hậu”, mép dán mặt sau có 03 hình dấu đỏ của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang;
- 01 (một) đôi dép có quai màu nâu, đã qua sử dụng, lớp dán dưới đế dép bị bung;
- 01 (một) áo khoác màu đỏ, bên trong cổ áo có in dòng chữ “Fashion Made in Viet Nam”, đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo phông dài tay màu đen, trên áo có in nhiều hoa văn màu trắng - đỏ, cổ áo có in dòng chữ “LEAGEL”, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần bò dài màu xanh, hai ống quần có vết mài, rách đã qua sử dụng.
Đối với hành vi sử dụng súng tự chế, bình xịt hơi cay của Hà Phúc Đ, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 189 ngày 24/6/2019 với hình thức phạt tiền.
Đối với Lục Kim H1 do không biết việc đưa Đ về nhà lấy súng tự chế, bình xịt hơi cay và thực hiện hành vi phạm tội, nên không đề cập xử lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Hà Phúc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 123; điểm a khoản 3 Điều 168; điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 3 Điều 57 đối với tội Giết người; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Phúc Đ phạm hai tội: “Giết người” và “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Phúc Đ 13 (mười ba) năm tù về tội Giết người;13 (mười ba) năm tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hà Phúc Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là26 (hai mươi sáu) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (21/3/2019).
2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 590, 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xử buộc bị cáo Hà Phúc Đ phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý trong quá trình cứu chữa, điều trị và tổn thất về tinh thần cho anh Nguyễn Lý H với tổng số tiền 56.186.969đ, được trừ đi số tiền gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 46.186.969đ, làm tròn số 46.187.000đ(Bốn mươi sáu triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Khoản tiền bồi thường kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Trả lại cho bị cáo Hà Phúc Đ: 01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ “Điện thoại của Hà Phúc Đ”, mép dán mặt sau có 03 chữ ký của Hà Phúc Đ và 01 chữ ký của Lương Ngọc Hải, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “SAMSUNG”, vỏ màu xanh, viền vàng, số Imei: 352403068805530; 352404068805538, trong điện thoại có lắp sim Viettel số thuê bao 0865261077, trên sim có dãy số 8984 0480000375 73211. Nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 (một) khẩu súng loại tự chế dài 20 cm, báng súng ốp gỗ, bên ngoài báng súng quấn băng dính màu trắng, nòng súng dài 4,4cm, bên ngoài nòng súng quấn dây thép, súng không có bộ phận tiếp đạn;
- 01(một) ổ tiếp đạn (dạng ổ súng côn xoay) hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng, đường kính 3,9cm, chiều cao 2,4cm;
- 02 (hai) vỏ đạn của loại đạn cỡ (5,6 x 15,5 mm);
- 01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ “Lọ xịt NATO CS-GAS”, mép dán mặt sau có chữ ký của Đinh Thị Lan Hương, chữ ký của Hà Trung Dũng và 02 hình dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, bên trong có 01 (một) lọ xịt màu xanh, nắp đen, nút ấn màu đỏ, nhãn hiệu NATO CS-GAS chiều cao 15cm, đường kính đáy 3,3cm;
- 01 (một) mảnh kim loại màu xám, dài 0,7cm, bản rộng nhất có đường kính 0,8cm;
- 01 (một) mẩu kim loại màu xám đen (kích thước 1,2 x 0,3 x 0,4 cm);
- 01 (một) bọc vô lăng ô tô màu đen đã qua sử dụng;
- 01 (một) bì niêm phong, mặt trước ghi dòng chữ “Dấu vết đường vân thu ở gương chiếu hậu”, mép dán mặt sau có 03 hình dấu đỏ của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang;
- 01 (một) đôi dép có quai màu nâu, đã qua sử dụng, lớp dán dưới đế dép bị bung;
- 01 (một) áo khoác màu đỏ, bên trong cổ áo có in dòng chữ “Fashion Made in Viet Nam” đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo phông dài tay màu đen, trên áo có in nhiều hoa văn màu trắng - đỏ, cổ áo có in dòng chữ “LEAGEL”, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần bò dài màu xanh, hai ống quần có vết mài, rách đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 09/8/2019).
4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hà Phúc Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.309.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 2.509.000đ(Hai triệu năm trăm linh chín nghìn đồng).
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/8/2019.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh T.Quang; - Cục THADS tỉnh T. Quang; - Công an tỉnh T.Quang (CQCSĐT + Phòng hồ sơ); - Trại tạm giam Công tỉnh T.Quang; - Sở Tư pháp tỉnh T.Quang; - Bị cáo; người bào chữa; - Bị hại; người có QLNVLQ; - Văn phòng TAND tỉnh; - Lưu HS + Toà án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thanh Sơn |