- Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN - V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2019/HS-ST Ngày 29-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H,TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trƣơng Thanh Phong;
2. Ông Phạm Thiệt Khá.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2019/TLST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn V, sinh ngày 20/02/1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Khóm C2, phƣờng AL, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Khóm C3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán gà; Trình độ học vấn: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Ă, sinh năm 1963 và bà Nguyễn T, sinh năm 1969; Vợ: Phan S, sinh năm 1995; Con: Có 01 ngƣời con tên Nguyễn Thị V2, sinh năm 2016; Tiền sự: Có 01 tiền sự, vào ngày 16/8/2018, bị Ủy ban nhân dân phƣờng AL, thị xã H ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 17/11/2018 chấp hành xong quyết định; Tiền án: Chƣa; Tạm giữ: Không, Tạm giam: Từ ngày 26/4/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1. Nguyễn Thị D, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cƣ trú: Khóm C3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Huỳnh Thị Y, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Ấp T3, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Long An.
Chổ ở hiện nay: Khóm 3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Bùi G, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm 3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
4. Lê Q, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Ấp A2, xã A3, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
5. Lâm Thị K, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm 2, thị trấn T5, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Chổ ở hiện nay: Khóm 4, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn L, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Ấp T6, xã A3, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
2.Trần C, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm BH, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3.Nguyễn E, sinh năm 1961 (vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm 1, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
4.Trần Ơ, sinh ngày 05/11/2006 (có mặt);
5.Trần M, sinh ngày 05/11/2006 (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của Trần Ơ và Trần M là: Phạm N, sinh năm 1970 (có mặt);
Cùng nơi cƣ trú: Khóm T7, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1.Trần I, sinh năm 1958 (vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm C2, phƣờng AL, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Huỳnh F, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Nơi cƣ trú: Khóm 4, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Huỳnh B, sinh năm 1963 (vắng mặt);
4. Trần Thị P, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Cùng nơi cƣ trú: Khóm 3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
5. Phạm Thị Đ, sinh ngày 26/3/2002 (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của Phạm Thị Đ là: Phạm X(vắng mặt);
Cùng nơi cƣ trú: Ấp L2, xã BT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 08/02/2019, Nguyễn V, điều khiển xe đạp (Vmƣợn xe của ông Nguyễn E) đi từ hƣớng xã Ƣ về phƣờng AT. Khi đi ngang qua Shop bán quần áo TL (tại khóm C3, phƣờng AT, thị xã H do chị Nguyễn Thị D làm chủ), Vdừng xe lại và đi bộ ra phía sau nhà, quan sát cửa sau không khóa, không có ai trông coi, nên lén lút vào nhà lấy trộm 01 chiếc ví da (bóp) màu kem (trắng hồng) loại có dây đeo, lấy 2.400.000 đồng và ném bỏ chiếc ví da tại khu đất trống gần Shop bán quần áo TL.
Ngày 16/3/2019, Nguyễn V tiếp tục lén lút vào tiệm uốn tóc “B” địa chỉ: Khóm 3, phƣờng AT, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp, lấy trộm 01 (một) chiếc túi sách màu hồng của chị Huỳnh Thị Y, bên trong có 199.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn V về tội trộm cắp tài sản. Trong thời gian đƣợc tại ngoại, Nguyễn V lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể nhƣ sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 25/4/2019, Nguyễn V cùng với đối tƣợng tên T5 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đi trên xe mô tô (không rõ biển số, chỉ còn khung sƣờn xe) đến khu vực khóm 4, phƣờng AT, thị xã H thì gặp Trần Ơ, Trần M là anh em song sinh, cùng sinh ngày 05/11/2006, cƣ ngụ tại khóm A9, phƣờng AT, thị xã H và A6 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đang nằm ngủ tại trƣớc nhà kho chứa tài sản của anh Lê Q. A6 gợi ý rủ cả nhóm đi trộm thì đƣợc Ơ, M, V, T5 đồng Ý. T5 đứng ngoài đƣờng canh đƣờng, A6 lấy cƣa sắt đƣa cho V, Ơ và M cƣa ổ khóa cửa nhà kho và đột nhập vào bên trong, Lợi lấy trộm 01 (một) xe Dream màu nâu biển số 62P5-4152, V lấy trộm 01 (một) xe Wave màu xanh, biển số 83FD-7742 ra khỏi nhà kho. Sau đó, V và Ơ điều khiển 02 (hai) xe vừa trộm đƣợc đến nhà ngƣời bạn của V tên Nguyễn L ở xã A3, thị xã H; T5 chở A6 và M đến trƣớc cổng chợ thị xã H rồi bỏ M và A6 ở lại, T5 đi đâu không rõ. Khi đến nhà Nguyễn L, V gửi xe Wave lại và điều khiển xe Dream chở Ơ quay lại tìm A6, T5 nhƣng không gặp.
Đến khoảng 02 giờ sáng, ngày 26/4/2019, V và Lợi đến khóm 4, phƣờng AT, phát hiện bội gà (lồng úp gà) của ngƣời dân nên dừng xe lại, leo rào vào để trộm gà nhƣng không có gà. Khi leo trở ra ngoài, V phát hiện nhà bên cạnh (quán 49K do chị Lâm Thị K làm chủ) có điện thoại đang sạc pin nên leo rào vào nhà, lên gác lấy 01 điện thoại SAMSUNG màu trắng, sau đó xuống dƣới gác lấy 01 điện thoại máy tính bảng màu đen, hiệu SAMSUNG bị bể màn hình; 01 điện thoại di động hiệu ASUS, màu đỏ màn hình cảm ứng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu đen. Sau khi lấy trộm tại quán 49K xong, V tiếp tục đột nhập vào “quán A” do anh Bùi G làm chủ, dùng một đoạn cây gỗ móc lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu trắng. Tất cả 06 điện thoại V để vào bọc ny lon màu đen, đƣa cho Ơ giữ, rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà Nguyễn L ngủ, đến sáng V lấy 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen đổi lấy con gà của ngƣời bạn của L tên R. Đến khoảng 09 giờ ngày 26/4/2019 V và Lợi bị cơ quan Công an mời về làm việc.
* Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã thu giữ:
+ Tiền Việt Nam 2.400.000 đồng;
+ 01 (một) chiếc túi sách màu hồng, có ngăn kéo và dây đeo;
+ Tiền Việt Nam là 199.000 đồng;
+ 01 (một) xe đạp màu xanh, trên sƣờn xe có dòng chữ SREEMS, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) cái quần Jean sọt màu xanh – đen;
+ 01 (một) cái áo tay dài sọc cơ rô màu trắng - đen – xám;
+ 01 (một) cái USB màu đen loại 16GB, USB loại trƣợt không có nắp đậy, trên USB có dòng chữ Data Traveler 100G3, chứa video với thời lƣợng 01 phút 29 giây, ghi lại diễn biến vụ việc một đối tƣợng nam thanh niên đột nhập từ cửa sau nhà chị Nguyễn Thị D, địa chỉ: Khóm C3, phƣờng An Thanh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp để trộm cắp tài sản;
+ 01 (một) xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển số, số máy: 00462397, số khung: LLCLXL304Y1B18897, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) xe mô tô loại Wave màu xanh, không có biển số, số máy: 039130, số khung: RRKWCB24M8XB39130, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) biển số xe 62F5-4152 có bao kính bên ngoài, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) biển số xe 83FD-7742 có bao kính bên ngoài, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) điện thoại di động màu đỏ, màn hình cảm ứng hiệu ASUS, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng bị nứt, hiệu SAMSUNG, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) máy tính bảng màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt (bể), hiệu SAMSUNG, máy tính bảng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu tím, hiệu Nokia 1280, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh, hiệu Nokia 105, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động;
+ 01 (một) đoạn cây gỗ chiều dài 63cm, nơi rộng nhất 01cm, có một đầu nhọn, một đầu bằng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H truy tìm vật chứng tại hiện trƣờng gồm: 01 (một) chiếc túi sách màu hồng có dây đeo; 01 (một) lƣỡi cƣa sắt nhƣng không tìm thấy.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐG, ngày 19 tháng 4 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, kết luận định giá tài sản 01 (một) cái túi sách màu hồng, có ngăn kéo và dây đeo. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điểm bình quân là: 186.600 đồng.
- Bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG, ngày 04 tháng 5 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, kết luận định giá nhƣ sau:
+ 01 (một) xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển số, số 00462397, số khung: LLCLXL304Y1B18897, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điểm bình quân là: 2.500.000 đồng;
+ 01 (một) xe mô tô loại Wave màu xanh, không có biển số, số máy: 039130, số khung: RRKWCB24M8XB39130, xe đã qua sử dụng. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điểm bình quân là: 2.500.000 đồng;
+ 01 (một) điện thoại di động màu đỏ, màn hình cảm ứng hiệu ASUS, điện thoại đã qua sử dụng. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điểm bình quân là: 166.000 đồng;
+ 01 (một) máy tính bản màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt (bể), hiệu SAMSUNG, máy tính bảng đã qua sử dụng. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điếm bình quân là: 166.000 đồng;
+ 01 (một) điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng bị nứt, hiệu SAMSUNG, điện thoại đã qua sử dụng. Giá trị thiệt hại xác định giá qua khảo sát giá thị trƣờng tại thời điếm bình quân là: 166.000 đồng.
- Tại biên bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐG ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá tài sản 01 (một) chiếc ví da (bóp) màu kem (trắng hồng) loại có dây đeo đã qua sử dụng, không thu hồi đƣợc. Tài sản đã cũ, không còn giá trị và bị hại cũng có đơn không yêu cầu định giá. Do đó, không có đủ cơ sở để định giá.
- Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐG, ngày 24 tháng 6 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, kết luận định giá tài sản: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, màu hồng, đã qua sử dụng; tất cả 03 (ba) cái điện thoại không thu hồi đƣợc. Do đó, Hội đồng không có đủ cơ sở để định giá. Giá trị 03 điện thoại này giữa bị cáo Nguyễn V với bị hại Lâm Thị K thỏa thuận là 3.000.0000 đồng.
Nhƣ vậy tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 11.283.600đồng.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra thông báo truy tìm vật chứng gồm:
+ 01 (một) xe loại Wave, không dè, bửng, biển số, đèn, xe không có số khung, số máy (chỉ có bộ khung xe màu đen), xe đã qua sử dụng;
+ 03 (ba) điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại di dộng hiệu OPPO màu hồng, bị bể màn hình, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, điện thoại đã qua sử dụng.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H thông báo truy tìm chủ sở hữu.
* Các vật chứng thu giữ, Cơ quan điều tra đã xử lý:
- Trả cho bị hại:
+ Nguyễn Thị D: 2.400.000 đồng.
+ Huỳnh Thị Y: 199.000 đồng và 01 (một) chiếc túi sách màu hồng, có ngăn kéo và dây đeo.
+ Trả cho bị hại Lê Q: 01 (một) xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển sổ, số máy: 00462397, số khung: LLCLXL304Y1B18897 và biển số xe 62P5-4152; 01 (một) xe mô tô loại Wave màu xanh, không có biển số, số máy: 039130, số khung: RRKWCB24M8XB39130 và biển số xe 83FD-7742.
+ Trả cho bị hại Lâm Thị K: 01 (một) điện thoại di động màu đỏ, màn hình cảm ứng hiệu ASUS; 01 (một) máy tính bảng màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt (bể), hiệu SAMSUNG.
+ Trả cho bị hại Bùi G: 01 (một) điện thoại di động màu trắng hiệu SASUNG, màn hình cảm ứng bị nứt (bể) .
Quá trình điều tra, Nguyễn V thừa nhận do có ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi trộm cắp.
- Về dân sự:
+ Đối với 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, không thu hồi đƣợc, giữa bị cáo Nguyễn V, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ, ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N với bị hại Lâm Thị K đã thỏa thuận với nhau là bị cáo Nguyễn V, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ, ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N đồng ý bồi thƣờng cho bà Lâm Thị K giá 03 điện thoại trên là 3.000.000 đồng, nhƣng đến nay chƣa bồi thƣờng.
+ Đối với 01 (một) chiếc ví da (bóp) màu kem (trắng hồng) mà bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị D, không tiến hành định giá đƣợc và chị Diễm cũng không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn V thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-HS, ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án.
Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bị hại Lâm Thị K rút lại yêu cầu về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn V cùng với ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ và ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N bồi thƣờng giá trị 03 điện thoại bị mất với số tiền 3.000.000đồng.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn V về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn V từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Đối với Trần Ơ, Trần M đã có hành vi cùng bị cáo Nguyễn V trộm cắp tài sản của anh Lê Q, Lâm Thị K, Bùi G. Do khi thực hiện hành vi vi phạm Trần Ơ và Trần M dƣới 14 tuổi (Ơ và M cùng sinh ngày 05/11/2006) nên chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát không đề cập đến trách nhiệm hình sự, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
- Đối với đối tƣợng tên A6, Thêm cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Nguyễn V, có dấu hiệu đồng phạm, nhƣng do chỉ biết tên, qua xác minh không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc, khi nào làm việc đƣợc sẽ xử lý sau, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
- Đối với đối tƣợng tên Đặng R2 (R) ngụ ấp 2, xã PN, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp, liên quan đến việc Nguyễn V lấy điện thoại SAMSUNG màu đen đổi con gà trống với R, qua xác minh hiện R không có ở địa phƣơng, đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc, khi nào làm việc đƣợc sẽ xử lý sau, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động mà V thực hiện hành vi trộm cắp bị thu giữ có giá trị là 166.000 đồng. Tuy nhiên do không xác định đƣợc chủ sở hữu nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn V về hành vi trộm cắp đối với tài sản trên, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, các bị hại Nguyễn Thị D, Huỳnh Thị Y, Lê Q, Bùi G đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm. Riêng đối với bị hại Lâm Thị K, ngoài nhận lại 02 chiếc điện thoại bị trộm, trong giai đoạn điều tra chị K còn yêu cầu bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ cùng với ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N bồi thƣờng giá trị 03 điện thoại bị mất không thu hồi đƣợc với số tiền 3.000.000đồng, nhƣng trong đơn xin xét xử vắng mặt, chị K xin rút lại yêu cầu bồi thƣờng trên, xét thấy đây là sự tự nguyện của đƣơng sự, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
* Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc: 1 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động mà bị cáo trộm, do thông báo tìm chủ sở hữu nhƣng không tìm đƣợc.
- Tịch thu tiêu hủy các vật có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo:, gồm 01 (một) đoạn cây gỗ chiều dài 63cm, nơi rộng nhất 01cm, có một đầu nhọn, một đầu bằng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn V và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, gồm:
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn V:
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu tím, hiệu Nokia 1280, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh, hiệu Nokia 105, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) cái quần Jean sọt màu xanh – đen;
+ 01 (một) cái áo tay dài sọc cơ rô màu trắng - đen – xám;
* Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn E: 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh, trên sƣờn xe có dòng chữ SREEMS, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
- Tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu đen loại 16GB, USB loại trƣợt không có nắp đậy, trên USB có dòng chữ Data Traveler 100G3, chứa video với thời lƣợng 01 phút 29 giây, ghi lại diễn biến vụ việc một đối tƣợng nam thanh niên đột nhập từ cửa sau nhà chị Nguyễn Thị D, địa chỉ: Khóm C3, phƣờng An Thanh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp để trộm cắp tài sản vì đây là chứng cứ của vụ án.
- Đối với 01 lƣỡi cƣa sắt, 01 xe loại Wave, không dè, không bửng, biển số, đèn, xe không có số khung (chỉ có bộ khung màu đen), xe đã qua sử dụng. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã thông báo và tiến hành truy tìm, nhƣng không tìm đƣợc, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Bị cáo Nguyễn V thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi,quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn V là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhƣng vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của bản thân, lợi dụng sự thiếu quản lý tài sản của các bị hại, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐG, ngày 19 tháng 4 năm 2019; Bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG, ngày 04 tháng 5 năm 2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H và thỏa thuận về giá trị tài sản giữa bị cáo với bị hại, thì tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại có giá trị là 11.283.600đồng.
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo, lời khai các bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.\
Nhƣ vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn V đã phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nhƣ cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác mặt khác còn làm ảnh hƣởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phƣơng. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nƣớc nói chung và trên địa bàn thị xã H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phƣơng, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đƣợc hƣởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của bộ luật Hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Bản thân bị cáo củng có 01 tiền sự: Vào ngày 16/8/2018, bị Ủy ban nhân dân phƣờng AL ra quyết định áp dụng biên pháp giáo dục tại phƣờng với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đồng thời, bị cáo trong thời gian bị khởi tố, điều tra về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo lại tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện sự bất chấp, xem thƣờng pháp luật nên phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, cũng nhƣ nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy đƣợc lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con ngƣời tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có nhƣ thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội nhƣ bị cáo.
Đối với Trần Ơ, Trần M đã có hành vi cùng bị cáo Nguyễn V trộm cắp tài sản của anh Lê Q, Lâm Thị K, Bùi G. Do khi thực hiện hành vi vi phạm Trần Ơ và Trần M dƣới 14 tuổi (Ơ và M cùng sinh ngày 05/11/2006) nên chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do đó Viện kiểm sát không đề cập đến trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với đối tƣợng tên A6, T5 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Nguyễn V, có dấu hiệu đồng phạm, nhƣng do chỉ biết tên, qua xác minh không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc, khi nào làm việc đƣợc sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với đối tƣợng tên Đặng R2 (R) ngụ ấp 2, xã PN, huyện TN, tỉnh Đồng Tháp, liên quan đến việc Nguyễn V lấy điện thoại SAMSUNG màu đen đổi con gà trống với R, qua xác minh hiện R không có ở địa phƣơng, đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc, khi nào làm việc đƣợc sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động mà V thực hiện hành vi trộm cắp bị thu giữ có giá trị là 166.000 đồng. Tuy nhiên do không xác định đƣợc chủ sở hữu nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn V về hành vi trộm cắp đối với tài sản trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu trắng; 01điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, mà bị cáo Nguyễn V cùng với Trần Ơ chiếm đoạt của bị hại Lâm Thị K, không thu hồi đƣợc. Trong giai đoạn điều tra, giữa bị cáo Nguyễn V, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ, ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N với bị hại Lâm Thị K đã thỏa thuận với nhau là: Bị cáo Nguyễn V, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ơ, ngƣời đại diện hợp pháp của Trần Ơ là bà Phạm N đồng ý bồi thƣờng cho bà Lâm Thị K giá 03 điện thoại trên là 3.000.000 đồng, nhƣng đến nay chƣa bồi thƣờng. Tuy nhiên, trong đơn xin xét xử vắng mặt, chị Hoa tự nguyện rút lại yêu cầu bồi thƣờng trên. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đƣơng sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét phần bồi thƣờng này.
- Đối với 01 (một) chiếc ví da (bóp) màu kem (trắng hồng) mà bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị D, do không thu hồi đƣợc nên không tiến hành định giá đƣợc, chị D cũng không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng, xét thấy đây là sự tự nguyện của đƣơng sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với các tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại, gồm tiền, điện thoại di động, túi xách tay, xe mô tô; trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý:
+ Trả lại cho bị hại Nguyễn Thị D: 2.400.000 đồng.
+ Trả lại cho bị hại Huỳnh Thị Y: 199.000 đồng và 01 (một) chiếc túi sách màu hồng, có ngăn kéo và dây đeo.
+ Trả cho bị hại Lê Q: 01 (một) xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển sổ, số máy: 00462397, số khung: LLCLXL304Y1B18897 và biển số xe 62P5-4152; 01 (một) xe mô tô loại Wave màu xanh, không có biển số, số máy: 039130, số khung: RRKWCB24M8XB39130 và biển số xe 83FD-7742.
+ Trả lại cho bị hại Lâm Thị K: 01 (một) điện thoại di động màu đỏ, màn hình cảm ứng hiệu ASUS; 01 (một) máy tính bảng màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt (bể), hiệu SAMSUNG.
+ Trả lại cho bị hại Bùi G: 01 (một) điện thoại di động màu trắng hiệu SASUNG, màn hình cảm ứng bị nứt (bể).
Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra đúng theo quy định của Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và nay không phát sinh gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động mà bị cáo trộm, do thông báo tìm chủ sở hữu nhƣng không tìm đƣợc, nhƣng xét thấy đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc là phù hợp pháp luật.
- Đối với các vật có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, gồm: 01 (một) đoạn cây gỗ chiều dài 63cm, nơi rộng nhất 01cm, có một đầu nhọn, một đầu bằng, Hội đồng xét xử Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, gồm:
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu tím, hiệu Nokia 1280, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh, hiệu Nokia 105, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) cái quần Jean sọt màu xanh – đen;
+ 01 (một) cái áo tay dài sọc cơ rô màu trắng - đen – xám;
+ 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh, trên sƣờn xe có dòng chữ SREEMS, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
Hội đồng xét xử căn cứ Điếu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp pháp luật.
- Đối với 01 (một) USB màu đen loại 16GB, USB loại trƣợt không có nắp đậy, trên USB có dòng chữ Data Traveler 100G3, chứa video với thời lƣợng 01 phút 29 giây, ghi lại diễn biến vụ việc một đối tƣợng nam thanh niên đột nhập từ cửa sau nhà chị Nguyễn Thị D, địa chỉ: Khóm C3, phƣờng An Thanh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp để trộm cắp tài sản, xét thấy đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 lƣỡi cƣa sắt, 01 xe loại Wave, không dè, không bửng, biển số, đèn, xe không có số khung (chỉ có bộ khung màu đen), xe đã qua sử dụng là vật chứng trong vụ án. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã thông báo và tiến hành truy tìm, nhƣng không tìm đƣợc, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tam giam (ngày 26/4/2019).
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc: 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng hiệu OPPO, bên dƣới mặt sau của điện thoại bị thủng một lỗ, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây gỗ chiều dài 63 cm, nơi rộng nhất 01 cm, có một đầu nhọn, một đầu bằng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn V:
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu tím, hiệu Nokia 1280, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu xanh, hiệu Nokia 105, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
+ 01 (một) cái quần Jean sọt màu xanh – đen;
+ 01 (một) cái áo tay dài sọc cơ rô màu trắng - đen – xám;
- Trả lại cho ông Nguyễn E: 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh, trên sƣờn xe có dòng chữ SREEMS, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lƣợng hoạt động.
- Tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu đen loại 16GB, USB loại trƣợt không có nắp đậy, trên USB có dòng chữ Data Traveler 100G3, chứa video với thời lƣợng 01 phút 29 giây, ghi lại diễn biến vụ việc một đối tƣợng nam thanh niên đột nhập từ cửa sau nhà chị Nguyễn Thị D.
* Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Nguyễn V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2019).
Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND thị xã H; - Nhà tạm giữ Công an thị xã H; - Cơ quan điều tra Công an TX. H; - Bị cáo; - Những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |