vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử ph t: Bị cáo Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.

2/ Xử ph t: Bị cáo Đặng Thị Ngọc Ph 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018. 3/ Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Thành D 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "20 - 2019 Phan Thi Kim L va ĐP .194 (Tang) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử ph t: Bị cáo Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày: 20-02-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thanh Vân.

2/ Bà Đặng Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15, 20 tháng 02 năm 2019 t i tr s Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 244/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018, theo quyết định đưa v án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-HS, ngày 01/02/2019 đối với các bị cáo:

1. Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi), sinh ngày 10/12/1986 t i TG; nơi cư trú: (Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Bà Lãnh xã TĐ huyện GCĐ tỉnh TG; chỗ : Phòng số 4 căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV số 854-856 đường đường TQB, Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nhân viên tiếp thị quảng cáo; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M © và bà Ph m Thị Ng; chồng con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 27/7/2018. (Có mặt).

2. Trần Thanh Đoan Tr, sinh ngày 14/9/1992 t i TG; nơi cư trú: Ấp Lợi An xã Đồng Th nh huyện GCT tỉnh TG; nghề nghiệp: Nhân viên thẩm mỹ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X và bà Nguyễn Thị Thanh Y; chồng con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 27/7/2018. (Có mặt).

3. Đặng Thị Ngọc Ph, sinh ngày 08/01/1986 t i Bình Phước; nơi cư trú: {Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 122/27/117/9/35 đường TĐ, Phường T2, Quận T3 Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Số 16A7 chung cư COPAC (số 12 đường TĐ, Phường MB, Quận T3 Thành phố Hồ Chí Minh)}; nghề nghiệp: Nhân viên chăm sóc da; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Z © và bà Nguyễn Thị Nh; chồng con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 27/7/2018. (Có mặt).

4. Nguyễn Thành D, sinh ngày 16/8/1995 t i ĐT; nơi cư trú: (Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Long Thái xã LKB huyện HN tỉnh ĐT; chỗ : Phòng số 3 căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV số 854-856 đường Đường TQB, Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nhân viên chăm sóc da; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Kh và bà Bùi Thị E ©; vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 27/7/2018. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Đào Văn G sinh năm: 1985; nơi cư trú: {(Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Tân Xuân 5 phường XĐ quận BTL, HN; chỗ : Căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV (Số 854 – 856 đường Đường TQB, Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh)}. (Vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Ngọc T1 sinh năm: 1989; nơi cứ trú: Ấp Vĩnh Tân xã Vĩnh Mỹ A huyện HB tỉnh BL. (Vắng mặt).

3/ Anh Tô Văn K sinh năm: 1993; nơi cư trú: Thôn 6 xã ĐRT huyện TĐ tỉnh ĐN. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ, ngày 27/7/2018, Công an Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV số 854-856 đường TQB, Phường N, Quận T thì phát hiện Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thành D, Đào Văn G đang có mặt t i phòng số 4 trên bàn trong phòng có 01 gói nylon chứa 04 viên ma túy nén màu xanh bên trên có chữ LV, trong ví da của Đặng Thị Ngọc Ph có 01 viên ma túy nén màu xanh bên trên có chữ LV. Ngoài ra còn có Tô Văn K đang bên ngoài phòng số 4 của căn hộ nêu trên. Sau đó Công an Phường N, Quận T tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và thu giữ các vật chứng có L quan gồm: 01 gói nylon chứa 04 viên ma túy nén màu xanh bên trên có chữ LV 01 viên ma túy nén màu xanh bên trên có chữ LV và 01 ví da (thu giữ của Đặng Thị Ngọc Ph), 01 điện tho i di động Sam Sung màu vàng gắn sim số 01665016166 và sim số 0915606212 của Nguyễn Thành D 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu đen gắn sim số 0963142657 của Tô Văn K, 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0906982350 của Đặng Thị Ngọc Ph 02 điện tho i di động hiệu Iphone của Đào Văn G (trong đó 01 điện tho i hiệu Iphone màu vàng gắn sim số 0908887665 và 01 điện tho i hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0975533686) 02 điện tho i di động của Phan Thị Kim L (trong đó có 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu xanh, gắn sim số 0975313179 và 01 điện tho i di động Iphone màu đen gắn sim số 0967087848) 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0947004565 của Trần Thanh Đoan Tr 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu hồng gắn sim số 0941511007 của Nguyễn Ngọc T1.

V việc sau đó được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T để điều tra làm rõ.

Theo bản kết luận giám định số 1307/KLGĐ-H ngày 03/8/2018 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: 04 viên nén hình tròn màu xanh lá có khắc chữ “LV” trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Thị Kim L, Tô Văn K, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thành D, Đào Văn G và hình dấu Công an Phường N, Quận T là ma túy thể rắn có khối lượng 1 4411g (một phẩy bốn bốn một một gam) lo i MDMA.

- Gói 2: 01 viên nén hình tròn màu xanh lá có khắc chữ “LV” được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Thị Ngọc Ph và hình dấu Công an Phường N, Quận T là ma túy thể rắn có khối lượng 0 3662g (không phẩy ba sáu sáu hai gam) lo i MDMA.

T i Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D, Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K và Đào Văn G khai nhận: Tr, T1, Ph là b n của L, K và D thuê phòng số 3 c nh phòng của L, G là b n của K. Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 26/7/2018, Tr và T1 đến nhà thuê của L t i phòng số 4 căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV số 854-856 Đường TQB, Phường N, Quận T chơi và nấu ăn t i đây. Đến 22 giờ cùng ngày thì Ph đến chơi. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì Tô Văn K và Nguyễn Thành D thuê trọ phòng số 3 kế bên phòng trọ của L sang chơi. Khi có đủ 06 người thì L có nói vui là hôm nay sinh nhật của L, nên L rủ 05 người còn l i hùn tiền mua ma túy sử d ng thì cả nhóm đồng ý; lúc này trong người L chỉ có 1.000.000 đồng nên L hỏi mượn của Tr 1.500.000 đồng để có đủ 2.500.000 đồng mua 10 viên ma túy nén (lo i thuốc lắc) mỗi viên là 250.000 đồng. Sau khi sử d ng ma túy đến ngày hôm sau mọi người sẽ gom tiền l i để trả cho L theo cách thức: Ai sử d ng số lượng ma túy bao nhiêu thì sẽ trả số tiền tương ứng bấy nhiêu cho L, số ma túy còn l i không sử d ng hết thì L sẽ trả l i cho người bán ma túy.

Phan Thị Kim L sử d ng điện tho i di động hiệu Nokia gắn sim số 0975313179 gọi vào điện tho i di động số 01649029109 của một người nam thanh niên bán ma túy (không rõ lai lịch số điện tho i của người bán ma túy do b n của L cho L trước đó) thỏa thuận mua 10 viên ma túy với giá 250.000 đồng/viên. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, người bán ma túy đến trước cửa nhà gọi điện tho i cho L nhận ma túy thì L đưa số tiền 2.500.000 đồng cho D để D đi ra bên ngoài trả tiền và nhận ma túy đồng thời kiểm tra số lượng ma túy đã mua. Có được ma túy D mang để trên mặt bàn trong phòng của L thì L lấy 01 viên ra sử d ng ½ viên ½ viên L để l i trên bàn. Lúc này do biết Đào Văn G (là b n của K và D) vừa từ HN vào chơi nên L nói K và D rủ G qua phòng của L cùng sử d ng ma túy. Lần lượt sau đó Tr lấy 01 viên bẻ ra 01 phần để sử d ng phần còn l i Tr để trên bàn rồi đi ngủ; T1 sử d ng ¼ viên, còn ¼ viên ném bỏ vào bồn cầu toilet rồi xả nước; D sử d ng ¼ viên khoảng 20 phút sau D tiếp t c sử d ng ¼ viên rồi đi ngủ; Ph lấy 01 viên bẻ ra 01 phần để sử d ng phần còn l i Ph để trên bàn; một lúc sau Ph tiếp t c lấy 01 viên để sử d ng nhưng vì bản thân đã mệt nên Ph bỏ viên thuốc vào trong ví da của mình cất giữ rồi đi ngủ; K sử d ng ½ viên một lúc sau K tiếp t c sử d ng ½ viên còn l i rồi đi ngủ; G sử d ng ¼ viên rồi nằm nghe nh c. Đến khoảng 8 giờ, ngày 27/7/2018, Công an Phường N, Quận T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Do hành vi của Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K và Đào Văn G không đủ yếu tố cấu thành tội „„Tàng trữ trái phép chất ma túy‟‟ nhưng Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K và Đào Văn G đã có hành vi „„Sử d ng trái phép chất ma túy‟‟; nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T có văn bản thông báo kèm hồ sơ chuyển về địa phương nơi cư trú của Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K để xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng Đào Văn G đã bị Công an Phường N, Quận T Quyết định xử ph t vi ph m hành chính vào ngày 03/8/2018 với số tiền là 750.000 đồng về hành vi „„Sử d ng trái phép chất ma túy‟‟.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho L và D do không xác định được lai lịch; nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T không có căn cứ để xử lý.

Căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV số 854-856 Đường TQB, Phường N, Quận T do anh Mai Hữu Tài đứng tên chủ s hữu và anh Tài cho Phan Thị Kim L thuê để ; anh Tài không biết việc L sử d ng phòng thuê làm địa điểm sử d ng trái phép chất ma túy.

Bản cáo tr ng số 237/CT-VKS ngày 29/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo: Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và t i phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp d ng điểm c Khoản 1 Điều 249 điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử ph t:

1. Bị cáo Phan Thị Kim L mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù;

2. Bị cáo Đặng Thị Ngọc Ph mức án từ 14 tháng đến 17 tháng tù.

3. Bị cáo Nguyễn Thành D mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

- Áp d ng điểm c Khoản 1 Điều 249 điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Điều 58 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo Trần Thanh Đoan Tr mức án 07 tháng tù.

Đồng thời đề nghị miễn cho các bị cáo phần hình ph t bổ sung (do các bị cáo ph m tội không nhằm m c đích thu lợi bất chính).

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong chứa ma túy và 01 bóp da;

+ Đối với chiếc điện tho i di động dùng vào việc ph m tội (thu giữ của bị cáo L) thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ Đối với những chiếc điện tho i di động đã thu giữ của các bị cáo và của Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K, Đào Văn G; do không có L quan đến v án nên trả l i cho các bị cáo và trả l i cho Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K, Đào Văn G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của: Cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa các bị cáo: Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi cất giữ cất giấu trái phép chất ma túy để sử d ng thì bị cơ quan Công an Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/7/2018 t i phòng số 4 căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV (số 854-856 Đường TQB, Phường N, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).

Lời khai nhận của các bị cáo cơ bản phù hợp với nội dung Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Qua giám định các chất ma túy thu giữ là ma túy thể rắn c thể là:

- Gói 1: 04 viên nén hình tròn màu xanh lá có khắc chữ “LV” trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Thị Kim L, Tô Văn K, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thành D, Đào Văn G và hình dấu Công an Phường N, Quận T có khối lượng là 1 4411g (một phẩy bốn bốn một một gam) lo i MDMA.

- Gói 2: 01 viên nén hình tròn màu xanh lá có khắc chữ “LV” được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Thị Ngọc Ph và hình dấu Công an Phường N, Quận T có khối lượng là 0 3662g (không phẩy ba sáu sáu hai gam) lo i MDMA.

Với khối lượng chất ma túy thu giữ như trên có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Vì vậy, đã có đủ cơ s để kết luận: Các bị cáo Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D đã ph m vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đây là v án có đồng ph m nhưng mang tính chất giản đơn nhất thời không có tính tổ chức chặt chẽ; trong v án bị cáo L giữ vai trò chính (là người kh i xướng việc thực hiện hành vi ph m tội) bị cáo Tr và bị cáo D với vai trò đồng ph m giúp sức; riêng bị cáo Ph tự chịu trách nhiệm độc lập về khối lượng chất ma túy đã tàng trữ để sử d ng. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc về tính chất mức độ tham gia tội ph m và vai trò của từng bị cáo theo quy định t i Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (ñöôïc sửa đổi bổ sung năm 2017) khi quyết định hình ph t đối với từng bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo Phan Thị Kim L, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D đã khai nhận t i phiên tòa là bản thân các bị cáo trước lần bị phát hiện bắt quả tang đã từng tàng trữ trái phép chất ma túy để sử d ng cùng với b n bè nhưng không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh cũng như không xác định được khối lượng chất ma túy mà các bị cáo đã tàng trữ; nên chưa có đủ cơ s để xác định các bị cáo Phan Thị Kim L, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D ph m tội thuộc trường hợp nhiều lần theo quy định của Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo Trần Thanh Đoan Tr khai nhận lần bị phát hiện bắt quả tang là lần đầu tiên thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử d ng và cũng là lần đầu tiên sử d ng trái phép chất ma túy. Do đó Hội đồng xét xử cũng cần phải lưu ý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i cơ quan điều tra và t i phiên tòa các bị cáo Phan Thị Kim L, Nguyễn Thành D, Trần Thanh Đoan Tr rất thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; bị cáo Tr còn là lao động chính mẹ ruột của bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo rất nặng sức khỏe kém. Riêng bị cáo Đặng Thị Ngọc Ph t i phiên tòa có thái độ khai báo tương đối thành khẩn phần nào cũng tỏ ra ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho từng bị cáo mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Do bị cáo Trần Thanh Đoan Tr có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp d ng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo và xử ph t bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung ph t mà điều luật quy định (đối với tội ph m mà bị cáo đã thực hiện); cũng đã có tác d ng của hình ph t và cũng đủ giáo d c răn đe đối với bị cáo và công tác phòng ngừa tội ph m chung.

Bản cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo Phan Thị Kim L, Nguyễn Thành D, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph là có cơ s pháp luật đúng người đúng tội mức án mà Kiểm sát viên đề nghị đối với từng bị cáo phù hợp với tính chất mức độ ph m tội và nhân thân của từng bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) thì các bị cáo còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng cấm đảm nhiệm chức v cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các bị cáo ph m tội không nhằm m c đích thu lợi bất chính mà chỉ để sử d ng cho bản thân và có hoàn cảnh gia đình khó khăn khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung là ph t tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

- 01 (một) gói niêm phong ghi v số 1307/18 G1 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D, Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K, Đào Văn G Nguyễn Ngọc Tiền hình dấu Công an Phường N, Quận T và chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc cùng 01 (một) gói niêm phong ghi v số 1307/18 G2 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Thị Ngọc Ph Nguyễn Ngọc Tiền hình dấu Công an Phường N, Quận T và chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc; qua giám định bên trong chứa chất ma túy độc h i và cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bóp da đã thu giữ của bị cáo Ph bị cáo Ph đã dùng vào việc ph m tội và hiện không còn giá trị sử d ng; nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện tho i di động hiệu Nokia có gắn sim số 0975313179 màu xanh thu giữ của bị cáo L và bị cáo đã dùng vào việc ph m tội; nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0967087848 màu đen (thu giữ của bị cáo L) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0947004565 màu trắng (thu giữ của bị cáo Tr) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0941511007 màu hồng (thu giữ của Nguyễn Ngọc T1) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0906982350 màu trắng (thu giữ của bị cáo Ph), 01 (một) điện tho i di động hiệu Samsung có gắn sim số 01665016166 và sim số 0975606212 màu vàng (thu giữ của bị cáo D) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0963142657 màu đen (thu giữ của Tô Văn K) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0908887665 màu vàng và 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0975533686 màu trắng (thu giữ của Đào Văn G); đây là tài sản cá nhân và không có L quan đến việc ph m tội; nên trả l i cho các bị cáo L, Tr, D, Ph và trả l i cho Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K, Đào Văn G.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo L và bị cáo D, do không xác định được lai lịch địa chỉ; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử d ng trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T có văn bản thông báo kèm hồ sơ chuyển về địa phương nơi cư trú để xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi sử d ng trái phép chất ma túy của Đào Văn G, ngày 03/8/2018, Công an Phường N, Quận T ban hành Quyết định xử ph t vi ph m hành chính số tiền 750.000 đồng.

Đối với ông Mai Hữu Tài là chủ s hữu của căn hộ A1.2-12A.09 chung cư GV (số 854-856 Đường TQB, Phường N, Quận T) không biết việc Phan Thị Kim L sử d ng phòng thuê để sử d ng trái phép chất ma túy; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên ;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249 điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

1/ Xử ph t: Bị cáo Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.

2/ Xử ph t: Bị cáo Đặng Thị Ngọc Ph 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.

3/ Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Thành D 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249 điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Điều 58 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

4/ Xử ph t: Bị cáo Trần Thanh Đoan Tr 07 (Bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính kể từ ngày 27/7/2018.

- Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung đối với các bị cáo: Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D, Trần Thanh Đoan Tr.

- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi v số 1307/18 G1 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Thị Kim L, Trần Thanh Đoan Tr, Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D, Nguyễn Ngọc T1, Tô Văn K, Đào Văn G, Nguyễn Ngọc Tiền hình dấu Công an Phường N, Quận T và chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc cùng 01 (một) gói niêm phong ghi v số 1307/18 G2 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Thị Ngọc Ph Nguyễn Ngọc Tiền hình dấu Công an Phường N, Quận T và chữ ký Giám định viên Phan Tấn Quốc; 01 bóp da.

+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện tho i di động hiệu Nokia có gắn sim số 0975313179 màu xanh.

+ Trả l i cho: Bị cáo Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0967087848 màu đen; bị cáo Trần Thanh Đoan Tr 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0947004565 màu trắng; bị cáo Đặng Thị Ngọc Ph 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0906982350 màu trắng; bị cáo Nguyễn Thành D 01 (một) điện tho i di động hiệu Samsung, có gắn sim số 01665016166 và sim số 0975606212, màu vàng; Nguyễn Ngọc T1 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0941511007 màu hồng; Tô Văn K 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0963142657 màu đen; Đào Văn G 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0908887665 màu vàng và 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone có gắn sim số 0975533686 màu trắng.

(Vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 212/PNK ngày 24/9/2018 của Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo: Phan Thị Kim L (tên gọi khác: Nhi) Đặng Thị Ngọc Ph, Nguyễn Thành D, Trần Thanh Đoan Tr; mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm nghìn đồng).

Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa v L quan đến v án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có L quan đến quyền lợi nghĩa v của mình; trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ