vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày bằng tre, màu vàng đã bị hư hỏng, dài 57cm, đường kính 4,5cm, thân điếu trạm trổ hình con rồng, bị vỡ dọc và mất một phần, dây cung còn lại 4,2cm, mất nõ điếu; 01 ghế nhựa màu vàng, chân trước bên trái bị gãy, có dán tem nhãn hiệu Song Long, mặt trướ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng P - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày 20-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Thanh Du.

Bà Dương Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Kim Oanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2019/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐ-HSST ngày 28 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Hồng P, sinh năm 1987; tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 200 đường P, phường Đ, quận H, Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Xuân L, sinh năm 1957 (đã chết) và con bà Vũ Thị Y, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Phạm Thị L, sinh năm 1988; có 01 con, sinh năm 2012; gia đình có 02 anh em, P là thứ hai; tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có; bị cáo Vũ Hồng P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/11/2018; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Đội 1, thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội; trú tại: số 56 A8/258 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h00' ngày 12/6/2018, Vũ Hồng P đến quán bia của chị Lương Thị Lan A, sinh năm 1984 (trú tại: Số 356 đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) mua đồ ăn. Lúc này tại quán bia có Nguyễn Minh H, sinh năm 1980 (Nơi ĐKHKTT: Đội X, thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: số 56 A8/258 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng); Lê Văn H1, sinh năm 1983 (Nơi ĐKHKTT: Số 17 gác 2 Lô 4 T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 232A/230 T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng); Huỳnh Anh T, sinh năm 1976 (trú tại: Số 89 Lô 1 T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng) đang uống bia và sử dụng điếu cày hút thuốc lào. P đi sang bàn hỏi nhóm H mượn điếu cày và sử dụng hút thuốc. Khi P đang hút, H1 đòi lại nên P trả lại rồi đi về.

Đến khoảng 16h00' cùng ngày, P rủ Nguyễn Văn N, sinh năm 1977 (trú tại: Số 45/33/112A N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng) và Trần Quốc T, sinh năm 1986 (trú tại: Số 11/104 Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng) đến quán của chị Lương Thị Lan A uống bia thì gặp nhóm H, H1, Tuấn cũng đang ngồi ở bàn bên cạnh. Trong khi nhóm P đang uống bia, H1 đi sang bàn của P hỏi P về tên, tuổi, địa chỉ nên giữa P và H1 xảy ra cãi nhau thì Tuấn nhận ra T là người quen đã đi sang can ngăn, giảng hòa và cùng ngồi uống bia với nhóm P. Lúc này H cầm chiếc điếu cày của quán bia đi đến phía sau P vụt 01 phát vào gáy làm P bị ngã ngồi ra phía trước. P liền đứng dậy, quay lại giằng nhau chiếc điếu cày với H làm chiếc điếu rơi xuống đất. Thấy vậy, N vào can ngăn, đẩy P, H ra hai bên thì bị H đấm 01 phát vào ngực nên N dùng tay phải đấm 01 phát vào bả vai H. H, P cùng cúi xuống nhặt chiếc điếu cày và giằng nhau thì P giằng, lấy được rồi dùng tay trái đẩy người H xoay nghiêng sang bên trái, đồng thời tay phải cầm điếu cày vung lên theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới đánh trúng vào vùng đỉnh chẩm bên phải, phía sau đầu H rồi vứt điếu cày lại hiện trường. H liền lấy ghế nhựa của quán đánh vào vùng bả vai phải và tay phải của P nên P bỏ chạy ra đường Đà Nẵng. H đuổi đến mép đường (trước cửa quán bia số 354 đường Đ) thì ngã xuống nằm bất tỉnh. Trong lúc P, H đang đánh nhau, H1 cũng lấy 01 cốc thủy tinh ném vào thái dương bên phải T, nên T đã lấy 01 cốc thủy tinh ném lại trúng đầu H1 gây thương tích. Sau khi sự việc xảy ra, H, H1 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt- Tiệp, thành phố Hải Phòng, còn P đến Công an phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng trình báo.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 352/2018/TgT ngày 20/7/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng và Bản kết luận giám định số 196/2018/GĐPY ngày 29/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Nguyễn Minh H bị chấn thương tương đối mạnh vùng đầu gây vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm, tụ máu nội sọ và sang chấn sưng nề mặt tay chân. Đã được điều trị đang dần ổn định, chưa phát hiện thấy để lại di chứng thần kinh; còn khuyết sọ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do chấn thương sọ não đã phẫu thuật, còn khuyết sọ là 45%. Sưng nề phần mềm vùng mặt, tay chân đã khỏi hoàn toàn và không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong Thông tư hiện hành nên không có căn cứ áp dụng. Chấn thương vùng đầu gây vỡ phức tạp xương sọ vùng đỉnh chẩm và tụ máu nội sọ là do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày cứng một lực tương đối mạnh vào vùng đỉnh chẩm phải gây nên. Sưng nề vùng mặt, tay chân có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên (bút lục 50-51). Chiếc điếu cày bằng tre là vật có khả năng gây ra được thương tích trên người Nguyễn Minh H theo cơ chế va đập, tuy nhiên không có căn cứ xác định chiếc điếu cày là vật gây thương tích. Trường hợp dùng tay, chân đánh với lực đủ mạnh có thể gây ra thương tích như đã xác định ở trên (bút lục 74).

Tại Công văn số 279/CV-PC09 ngày 25/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng có kết luận: Vết nứt xương sọ vùng đỉnh - chẩm của nạn nhân Nguyễn Minh H do một tác động va đập gây nên (bút lục 76).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 702/2018/TgT ngày 20/7/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Vũ Hồng P bị chấn thương gây sưng nề bầm tím vùng chẩm gáy, không tổn thương xương, không thương nội sọ, không ảnh hưởng đến vận động vùng cổ. Không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm cơ thể. Thương tích có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên (bút lục 105).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 351/2018/TgT ngày 20/7/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng và Bản kết luận giám định số 195/2018/GĐPY, ngày 29/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Lê Văn H1 bị chấn thương vùng đầu gây rách dập da, không tổn thương thực thể ở sọ não…Tỷ lệ phần trăm tổn thương do vết thương vùng đầu gây nên là 2%. Chiếc điều cày là vật có khả năng gây ra được thương tích trên người Lê Văn H1 theo cơ chế va đập, tuy nhiên không có căn cứ xác định chiếc điếu cày là vật gây thương tích. Chiếc cốc thủy tinh có khả năng gây ra được thương tích trên người Lê Văn H1 với cơ chế tương tự. Trường hợp dùng tay, chân không thể gây ra thương tích nêu trên (bút lục 81, 95).

Tại Bản Kết luận số 80/2018/GĐPY ngày 19/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Vết đỏ nghi máu thu ở ghế nhựa, qua giám định là máu của Lê Văn H1.

Đối với Lê Quốc T bị H1 ném cốc bia vào thái dương bên phải, gây sưng nề, dài 01cm. Quá trình điều tra T từ chối giám định thương tích.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 04/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng kết luận: 01 chiếc ghế nhựa mầu trắng, nhãn hiệu Song (loại 4 chân); 01 chiếc điếu cày bằng tre, màu vàng; 07 chiếc cốc thủy tinh, màu trắng-xanh (loại 330ml); 01 cánh cửa kính cường lực đã qua sử dụng, không thể xác định giá trị của tài sản trước khi bị hủy hoại và giá trị còn lại của tài sản. Vì vậy Hội đồng không thể xác định giá trị thiệt hại.

Bị hại là anh Nguyễn Minh H khai sau khi ngồi uống bia tại quán chị Lương Thị Lan A, nhóm H, H1, Tuấn bỏ đi hát Karaoke, đến 16h00 thì cả nhóm lại quay lại quán của chị Lan Anh tiếp tục uống bia và xảy ra sự việc xô xát với nhóm P, N, T cũng đang ngồi tại quán do xuất phát từ việc mượn điếu cày của P lúc trước. Anh Nguyễn Minh H không thừa nhận đã dùng điếu cày vụt vào gáy P trước mà do khi H1 sang bàn của P, N, T đã xảy ra cãi nhau với P, còn H ngồi uống bia với Tuấn có chửi một vài câu thì bị một người, không rõ là ai trong nhóm P từ phía sau dùng điếu cày đánh vào gáy, làm H bị choáng. H định đứng dậy thì tiếp tục bị ném cốc thủy tinh vào gáy, làm gục xuống (bút lục 305-308). Trong quá trình điều tra, H đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và đã ra thông báo truy tìm, nhưng không xác định được H ở đâu. Cơ quan điều tra không thể tiếp tục lấy lời khai và tiến hành các biện pháp điều tra cần thiết đối với H. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, ngoài lời khai của H không còn tài liệu nào khác chứng minh về nội dung H đã khai báo nêu trên.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Hồng P đã khai nhận về hành vi dùng chiếc điếu cày đánh 01 phát vào vùng đỉnh chẩm bên phải đầu Nguyễn Minh H gây thương tích như đã nêu ở trên.

Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 05/6/2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Vũ Hồng P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Vũ Hồng P theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS năm 2015; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Vũ Hồng P với mức hình phạt từ 60 (sáu mươi) tháng đến 66 (sáu mươi sáu) tháng tù.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ngày 18/9/2018, Vũ Hồng P và Nguyễn Văn N đã thỏa thuận bồi thường và hỗ trợ cho anh Nguyễn Minh H tổng số tiền là 200.000.000 đồng (H bồi thường 190.000.000 đồng, N hỗ trợ 10.000.000 đồng). Anh H không còn yêu cầu khác về dân sự (bút lục 144). Ngoài ra do H không có mặt ở nhà nên ngày 10/4/2019 đại diện gia đình H có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P, đồng thời không có yêu cầu, đề nghị nào khác (bút lục 337).

Đối với thiệt hại về tài sản của quán chị Lương Thị Lan A gồm: 07 cốc thủy tinh, 01 cánh cửa kính cường lực, 01 điếu cày bằng tre. Chị Lan Anh không yêu cầu các đối tượng có liên quan bồi thường thiệt hại (bút lục 385).

- Về xử lý vật chứng: 01 điếu cày bằng tre, màu vàng đã bị hư hỏng, dài 57cm, đường kính 4,5cm, thân điếu trạm trổ hình con rồng, bị vỡ dọc và mất một phần, dây cung còn lại 4,2cm, mất nõ điếu; 01 ghế nhựa màu vàng, chân trước bên trái bị gãy, có dán tem nhãn hiệu Song Long, mặt trước ghế có mảng chất màu nâu đỏ dạng chùi quệt, kích thước 1,4 x 4,5cm , đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen của anh Nguyễn Minh H trình báo trong khi đánh nhau đã bị mất tại quán bia (bút lục 141), Cơ quan điều tra đã truy tìm, nhưng không có kết quả, nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Bị cáo Vũ Hồng P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị hại anh Nguyễn Minh H vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Những người tham gia tố tụng, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An có quan điểm đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thảo luận tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 BLTTHS năm 2015.

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên các cơ quan tố tụng đã có vi phạm về thời hạn xử lý tin báo tội phạm và không ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Minh H về hành vi gây rối trật tự công cộng là thiếu sót. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

- Về tội danh:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, cụ thể: Bị cáo Vũ Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi vào khoảng 16h00, ngày 12/6/2018 tại địa điểm quán bia của chị Lương Thị Lan A (số 356 đường Đà Nẵng, phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng) đã xảy ra va chạm, đánh nhau giữa nhóm Vũ Hồng P, Nguyễn Văn N, Trần Quốc T và nhóm Nguyễn Minh H, Lê Văn H1, Huỳnh Anh T do nguyên nhân có lời lẽ cư sử không đúng mực xuất phát từ việc P mượn điếu cày của nhóm H thời gian trước đó. Trong lúc xô xát, Vũ Hồng P dùng tay trái đẩy người H xoay nghiêng sang bên trái, đồng thời tay phải cầm điếu cày vung lên theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới đánh trúng vào vùng đỉnh chẩm bên phải, phía sau đầu H làm Nguyễn Minh H bị chấn thương tương đối mạnh vùng đầu gây vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm, tụ máu nội sọ và sang chấn sưng nề mặt tay chân. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do chấn thương sọ não đã phẫu thuật, còn khuyết sọ là 45%.

Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Hồng P như đã nhận định ở trên là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có lỗi cố ý trực tiếp, dùng hung khí nguy hiểm xâm hại sức khỏe của người khác làm giảm 45% sức khỏe quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 BLHS; phù hợp với các lời khai của những người làm chứng; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 352/2018/TgT ngày 20/7/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng và Bản kết luận giám định số 196/2018/GĐPY ngày 29/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; Công văn số 279/CV-PC09 ngày 25/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.

Từ những phân tích trên và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Hồng P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS 2015.

Đối với Nguyễn Văn N: Xuất phát từ việc can ngăn H, P khi đang đánh nhau đã bị H đấm vào ngực nên có hành vi dùng tay phải đấm 01 phát vào bả vai H. Hành vi của N độc lập với P, không có mục đích giúp sức cho P và không trực tiếp gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho H, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ xác định N đồng phạm với P về hành vi gây thương tích cho H.

Đối với Trần Quốc T có hành vi dùng cốc thủy tinh ném vào đầu Lê Văn H1, gây thương tích tổn hại 02% sức khỏe. Ngày 22/8/2018, H1 có đơn đề nghị khởi tố đối với T. Ngày 22/9/2018, T đã thỏa thuận bồi thường cho H1 số tiền 10.000.00 đồng. Lê Văn H1 đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan điều tra không khởi tố, quan điểm Viện Kiểm sát không có căn cứ truy tố đối với T về hành vi cố ý gây thương tích, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trách nhiệm hình sự đối với T.

Đối với Lê Văn H1 có hành vi dùng cốc thủy tinh ném vào vùng thái dương bên phải Trần Quốc T gây sưng nề, dài 01cm. Quá trình điều tra T từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn N, Lê Văn H1, Trần Quốc T tham gia đánh nhau tại quán bia của chị Lan Anh. Do việc đánh nhau là tự phát, không có sự bàn bạc từ trước giữa hai nhóm. Việc T, H1 đánh nhau gây thương tích cho nhau là độc lập, không liên quan trực tiếp đến hành vi đánh nhau giữa P và H. Sự việc cũng chỉ diễn ra trong phạm vi quán bia, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội nên hành vi của các đối tượng không đủ cơ sở cấu thành về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt hành chính đối với T, N, H1 về các vi phạm tương ứng theo Nghị Định 167 ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.

Đối với thiệt hại về tài sản của chị Lương Thị Lan A do Vũ Hồng P, Nguyễn Minh H, Lê Văn H1, Trần Quốc T và Nguyễn Văn N đánh nhau gây ra gồm: 01 ghế nhựa màu vàng, nhãn hiệu Song long; 01 chiếc điếu cày bằng tre, màu vàng; 07 chiếc cốc thủy tinh, màu trắng- xanh (loại 330ml); 01 cánh cửa kính cường lực đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá tài sản, nhưng Hội đồng định giá không thể xác định giá trị thiệt hại; chị Lan Anh cũng không có yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra không khởi tố, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý các đối tượng về hành vi Hủy hoại tài sản.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, sự việc xảy ra cũng do có một phần lỗi của bị hại. Mặt khác bị cáo là con của người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác, về phía gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Vì vậy Hội đồng xét xử xét cần cho bị cáo Vũ Hồng P được hưởng tình tiết giảm nhẹ như đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, nên chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian N định đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Bi cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp quan điểm Viện Kiểm sát đề nghị, để đảm bảo tính khoan hồng của nhà nước đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Ngày 18/9/2018, Vũ Hồng P, Nguyễn Văn N đã thỏa thuận bồi thường và hỗ trợ cho anh Nguyễn Minh H tổng số tiền là 200.000.000 đồng (H bồi thường 190.000.000 đồng, N hỗ trợ 10.000.000 đồng). Anh Nguyễn Minh H không còn yêu cầu gì khác về dân sự. Ngoài ra do H không có mặt ở nhà, nên ngày 10/4/2019 đại diện gia đình H có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P, đồng thời không có yêu cầu, đề nghị nào khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với thiệt hại về tài sản của quán chị Lương Thị Lan A gồm: 07 cốc thủy tinh, 01 cánh cửa kính cường lực, 01 điếu cày bằng tre. Chị Lan Anh không yêu cầu các đối tượng có liên quan bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với lời khai của Nguyễn Minh H về việc bị mất 01 chiếc điện thoại thoại Samsung Galaxy Note 8, màu đen trong khi đánh nhau với P. Ngoài lời khai của H không còn tài liệu nào khác xác định H đã bị mất chiếc điện thoại, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét xử lý.

- Về xử lý vật chứng:

Xét 01 điếu cày bằng tre, màu vàng đã bị hư hỏng, dài 57cm, đường kính 4,5cm, thân điếu trạm trổ hình con rồng, bị vỡ dọc và mất một phần, dây cung còn lại 4,2cm, mất nõ điếu; 01 ghế nhựa màu vàng, chân trước bên trái bị gãy, có dán tem nhãn hiệu Song Long, mặt trước ghế có mảng chất màu nâu đỏ dạng chùi quệt, kích thước 1,4 x 4,5cm, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An để quản lý, là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS năm 2015; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng P 60 (sáu mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/11/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày bằng tre, màu vàng đã bị hư hỏng, dài 57cm, đường kính 4,5cm, thân điếu trạm trổ hình con rồng, bị vỡ dọc và mất một phần, dây cung còn lại 4,2cm, mất nõ điếu; 01 ghế nhựa màu vàng, chân trước bên trái bị gãy, có dán tem nhãn hiệu Song Long, mặt trước ghế có mảng chất màu nâu đỏ dạng chùi quệt, kích thước 1,4 x 4,5cm là công cụ phương tiện phạm tội, theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển cho Chi cục thi hành án Dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng ngày 07/6/2019.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Hồng P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.

Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ