vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 12/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 2 Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN VAN N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày 12-4-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng;

2. Ông Trần Văn Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ph; bị cáo có vợ Phan Kim Ph (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: có 03 tiền án: Tại Bản án số 56/2011/HSST ngày 11/8/2011 Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 8.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 27.732.000 đồng), đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 27/3/2013; chưa được xóa án tích; tại Bản án số 104/2013/HSPT ngày 16/7/2013 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” (số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.210.000 đồng); đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/4/2014; chưa được xóa án tích; tại Bản án số 66/2015/HSST ngày 25/11/2015 Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (trị giá tài sản chiếm đoạt là 58.060.000 đồng); đã chấp hành xong hình phạt; chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC ngày 20/12/2018 của Trưởng Công an thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn N số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2018 cho đến nay; có mặt.

Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 27, đường Nguyễn An N, Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

3. Anh Phan Văn T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn Tân Biên, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Anh Th, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền đánh bạc và tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 26/11/2018 đến ngày 08/12/2018, Nguyễn Văn N đã thực hiện 01 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn huyện T, tỉnh Tây Ninh, cụ thể như sau:

Vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Sáng ngày 28/11/2018, Nguyễn Văn N đến nhà bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978, ngụ Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giúp việc nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bà N giao 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 70H1-332.40 của con ruột bà N là anh Nguyễn Anh Th, sinh năm 1999 ngụ cùng địa chỉ với bà N cho N để đẩy xe mô tô của chồng bà N đi sửa tại xã C, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi đẩy xe mô tô bị hư đến tiệm sửa xe tại xã C thì N điều khiển mô tô biển số 70H1-332.40 của anh Th sang Casino ở Campuchia cầm cố cho người tên Ph (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 15.000.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc. Chiều cùng ngày, anh Th sang Campuchia chuộc lại xe mô tô với số tiền 15.300.000 đồng và giao nộp xe mô tô cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên để phục vụ điều tra.

Các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Vụ thứ nhất: Ngày 26/11/2018, Nguyễn Văn N đến nhà bạn tên V, tại Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để chơi, khi đến thấy anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989, ngụ ấp T, xã T, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển số 70T2-2846 đến chơi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh Q để chạy sang Casino ở Campuchia cầm cố lấy tiền đánh bạc. N rủ anh Q uống bia thì anh Q đồng ý, lúc này N hỏi mượn xe mô tô của anh Q để đi mua bia. Sau khi anh Q đưa xe thì N không đi mua bia mà điều khiển xe sang Casino ở Campuchia cầm cố cho một người (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 7.000.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc.

Vụ thứ hai: Ngày 08/12/2018, tại Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn N gặp anh Phan Văn T, sinh năm 1995, ngụ Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70H1-229.94 nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh T để chạy sang Casino ở Campuchia cầm cố lấy tiền đánh bạc. Nguyễn Văn N hỏi mượn xe của anh T để đi lấy tiền thì anh T đồng ý. Sau khi anh T đưa xe thì N điều khiển xe sang Casino ở Campuchia cầm cố cho một người (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 6.000.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc.

* Kết quả định giá tài sản:

- Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐG ngày 17/12/2018 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Tân Biên kết luận: Xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 70H1-332.40, số khung: 5814GY334752, số máy: JF66B0334824, có giá trị là 27.720.000 đồng.

- Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐG ngày 26/12/2018 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Tân Biên kết luận: Xe mô tô Yamaha Jupiter, biển số 70T2-2846, số khung: 5B590AY081016, số máy: 5B95081018, có giá trị là 10.000.000 đồng.

- Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 26/01/2019 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Tân Biên kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius F1, biển số 70H1-229.94, số khung: FC40FY035696, số máy: 1FC4035630, có giá trị là 12.600.000 đồng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Ngày 17/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên tạm giữ xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 70H1-332.40; ngày 20/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 70H1-332.40 cho anh Nguyễn Anh Th.

* Kết quả kê biên tài sản: Bị cáo Nguyễn Văn N không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên không tiến hành kê biên.

* Trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị N đã nhận số tiền 15.300.000 đồng từ bà Nguyễn Thị Ph là mẹ của Nguyễn Văn N nên không yêu cầu bồi thường thêm.

Anh Nguyễn Văn Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo N chưa bồi thường cho anh Q.

Anh Phan Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 12.600.000 đồng, bị cáo N chưa bồi thường cho anh T.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KSĐT, ngày 14 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Q và Phan Văn T theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố.

Bị hại Nguyễn Văn Q, Phan Văn T, Nguyễn Thị N vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi các bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào các ngày 26/11/2018 và ngày 08/12/2018 tại Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Văn N đã dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu tin tưởng giao tài sản nhằm chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, biển số 70T2-2846 của anh Nguyễn Văn Q trị giá 10.000.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 70H1-229.94 của anh Phan Văn T trị giá 12.600.000 đồng. Tổng giá trị 22.600.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn N đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Vào khoảng 11 giờ ngày 28/11/2018 tại Khu phố B, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, sau khi được bà Nguyễn Thị N giao xe và nhờ bị cáo Nguyễn Văn N đi sửa xe thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 70H1-332.40 của bà N trị giá 27.720.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 13/CT-VKS-KSĐT, ngày 14 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng: Đối với hành vi chiếm đoạt trong tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo Nguyễn Văn N đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt xe nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại Nguyễn Thị N có đơn bãi nại cho bị cáo, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả cho bà Nguyễn Thị N. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Tại Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC ngày 20/12/2018 của Trưởng Công an thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn N số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện thu nhập của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Bồi thường thiệt hại:

Bị hại Nguyễn Thị N đã nhận được số tiền bồi thường từ gia đình bị cáo là 15.300.000 đồng. Bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận.

Bị hại Nguyễn Văn Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng; Phan Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 12.600.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của bị hại là có cơ sở nên cần buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Phan Văn T số tiền 12.600.000 đồng. Tổng cộng bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho 02 bị hại là 22.600.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 1.130.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.1 Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2 Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1.3 Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh là 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17/12/2018.

3. Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.000.000 (mười triệu) đồng và bồi thường cho anh Phan Văn T trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 12.600.000 (mười hai triệu sáu trăm nghìn) đồng. Tổng cộng bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường là cho 02 bị hại là 22.600.000 (hai mươi hai triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễn Văn Q và anh Phan Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Văn N không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn N còn phải trả cho anh Nguyễn Văn Q, anh Phan Văn T số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

5. Về án phí:

Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 1.130.000 (một triệu một trăm ba mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ