vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Bảo N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Đoàn Bảo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Bảo N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Bảo N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày 22/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Tính.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tưởng;

Bà Phan Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 23/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 10/10/2019 đối với bị cáo: Đoàn Bảo N, sinh ngày 18/12/1989 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khóm V, thị trấn H, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C, con bà Trần Thị T (chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 28/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/9/2015 chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam liên tục tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh từ ngày 16/7/2019 cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

- Anh Nguyễn T, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

- Chị Lê Thị V, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (chị Lê Thị V là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Tùng theo văn bản ủy quyền ngày 30/8/2017), vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2017, Đoàn Bảo N, sinh năm 1989; trú tại: khóm V, thị trấn H, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đến nhà của anh Nguyễn Văn Tâm ở thôn T, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị chơi và ở lại tại đây. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/8/2017, khi thấy Tâm và người thân trong gia đình đi vắng, Ngọc nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngọc quan sát ở phòng khách có 01 chiếc ti vi màn hình phẳng, nhãn hiệu Panasonic màu đen, loại 40 inch và 01 chiếc điều khiển tivi của vợ chồng anh Nguyễn T và chị Lê Thị V (anh Tùng là anh ruột của Nguyễn Văn T); trú tại: thôn T, xã G, huyện Gio Linh, đặt trên tủ gỗ nên đã trộm cắp chiếc tivi cùng điều khiển rồi thuê xe taxi chở lên quán cà phê kiêm dịch vụ cầm đồ Ngọc N ở đường Đ, P, thành phố Đ cầm cố với số tiền 1.500.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Ngọc gọi điện cho một người tên là Lực (không rõ nhân thân, địa chỉ) hỏi bán chiếc tivi thì được Lực giới thiệu cho một người khác mua. Sau đó, Ngọc đến tiệm cầm đồ chuộc lại tài sản đã cầm cố rồi bán lại cho người này (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá 2.500.000 đồng để tiêu xài và sử dụng ma túy. Khi nghe tin cơ quan Công an đến tìm, Ngọc bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 16/9/2019, Ngọc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nói trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-ĐGTS, ngày 16/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gio Linh kết luận: “01 cái tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu panasonic, kiểu máy TH-40DS490V, số máy RV7150911, màu đen và 01 điều khiển tivi mua mới tháng 4/2017…trị giá các tài sản trên tại thời điểm ngày 13/8/2017 là 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng)”.

Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Đoàn Bảo N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Đoàn Bảo N về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, như: thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn và đầu thú; xử phạt Đoàn Bảo N với mức án từ 24 đến 30 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi nhận được Đơn trình báo tố giác tội phạm của chị Lê Thị V đối với Đoàn Bảo N, ngày 31/8/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh khởi tố vụ án. Nhưng do Đoàn Bảo N bỏ trốn khỏi địa phương, nên ngày 29/10/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra tạm đình chỉ điều tra. Đến ngày 19/7/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra phục hồi điều tra với lý do Đoàn Bảo N ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 13/8/2017, Đoàn Bảo N lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý, bảo vệ tài sản nên đã trộm cắp 01 chiếc ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu Panasonic màu đen, loại 40 inch và 01 điều khiển tivi của vợ chồng anh Nguyễn T và chị Lê Thị V có tổng trị giá là 6.700.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đoàn Bảo N đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đó là: Ngày 28/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù và ngày 19/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù. Khi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đã tác động với gia đình bồi thường cho bị hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt được định giá là 6.700.000 đồng, nhưng chị Lê Thị V chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 1.500.000 đồng và đã nhận đủ số tiền vào ngày 15/8/2019. Hiện tại, chị Vân không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các hành vi có liên quan đến vụ án:

Việc anh Hoàng Ngoãn đã nhận cầm cố tivi và điều khiển ti vi nhưng không biết tài sản do Ngọc trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý. Về số tiền 1.500.000 đồng mà anh Ngoãn giao cho bị cáo để nhận cầm cố tài sản đã được Đoàn Bảo N thanh toán đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm, do đó, ở giai đoạn xét xử, Tòa án không đưa anh Hoàng Ngoãn tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Số tiền 1.500.000 đồng mà ông Đoàn Văn C (bố của Đoàn Bảo N) chuyển giao cho Ngọc để bồi thường cho bị hại, ông C không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên, nên trong giai đoạn điều tra không xác định ông C tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật.

Đối với người lái xe chở Đoàn Bảo N; người đàn ông tên Lực giới thiệu Đoàn Bảo N bán tivi và người mua tivi của Đoàn Bảo N, cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được nhân thân cũng như địa chỉ của những người này nên không có cơ sở để xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Bảo N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Bảo N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 16/7/2019.

2. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Đoàn Bảo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ