vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/07/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chung Min F, cho anh F được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chung Min Feng - Nguyễn Ngọc Tuyền"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 7 - 2019
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Thuận

Bà Nguyễn Thu Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:19/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về việc “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Chung Min F, sinh năm 1983

Địa chỉ: Lầu 3, số 19, hẻm 249, đường Trường A, khóm 007, phường Trường A, Khu Thất G, Thành phố Cơ L, Đài L.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Ấp Cái R, xã Phú H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên tòa chị T vắng mặt, anh Chung Min F có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn là anh Chung Min F trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị T sau thời gian quen biết thì anh và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân huyện Cái N, tỉnh Cà Mau cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 17/12/2018.

Sau khi kết hôn anh và chị T chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời gian về sau cụ thể là khoảng cuối tháng 01/2019 thì anh và chị T xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa về quan điểm, tính tình và lối sống khác biệt nhau, công việc, bất đồng ngôn ngữ với nhau và xa cách nơi cư trú. Sau đó anh về Đài Loan không trở lại Việt Nam nữa, còn chị T thì ở lại Việt Nam làm ăn, sinh sống. Anh và chị T không còn thư từ hay điện thoại gì với nhau nữa. Vì mâu thuẫn vợ chồng càng thêm trầm trọng, anh và chị không thể hòa giải và hàn gắn lại được nên cả hai đã tự nguyện sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng hoàn toàn không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, chúng tôi đã ly thân thời gian dài, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T. Đồng thời, do điều kiện địa lý xa xôi và bận nhiều công việc phải về Đài Loan, không thể đến Tòa án để hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử nên anh xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa xét xử. Anh Chung Min F chấp nhận mọi sự phán quyết của Tòa án và anh không có ý kiến gì thêm.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau triệu tập để tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn Chung Min F có đơn xin vắng mặt, bị đơn Nguyễn Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chung Min F được ly hôn đối với chị Nguyễn Ngọc T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của anh Chung Min F đối với chị Nguyễn Ngọc T, được xác định là tranh chấp về việc xin ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Chung Min F là người nước ngoài, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Chung Min F và chị Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, anh Chung Min F xin xét xử vắng mặt; Bị đơn chị Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; tại biên bản xác minh ngày 01/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thì chị Nguyễn Ngọc T có hộ khẩu thường trú và thường xuyên cư trú tại ấp Cái R, xã Phú H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau. Do đó, căn cứ Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt đối với anh Chung Min F và chị Nguyễn Ngọc T.

. Về nội dung: Xét đơn khởi kiện của anh Chung Min F yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T. Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa anh Chung Min F và chị T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Cái N và được Ủy ban nhân huyện Cái N cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 17/12/2018, nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi kết hôn, thời gian sống hạnh phúc không dài, do xảy ra mâu thuẫn vì nguyên nhân bất hòa về quan điểm, tính tình, lối sống, công việc và khoảng cách về nơi cư trú mà không thể hòa giải và hàn gắn lại được. Sau đó anh Chung Min F về Đài Loan còn chị T ở Việt Nam hai bên không còn liên lạc gì nhau, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, cuộc hôn nhân của hai đương sự đã thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bị đơn đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Chung Min F đối với chị Nguyễn Ngọc T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh Chung Min F và chị Nguyễn Ngọc T, xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét khi đương sự không yêu cầu.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Chung Min F phải chịu 300.000 đồng, đã nộp tạm ứng án phí được chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 37, Điều 207, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chung Min F, cho anh F được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Chung Min F phải chịu 300.000 đồng, ngày 27/5/2019 anh Chung Min F có dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 00311 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Anh Chung Min F vắng mặt nên anh Chung Min F có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu án văn;

- Lưu VT (TM:TANDTCM).

Nguyễn A Đam

Cỡ chữ