vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1.

Về con chung: Giao con chung Bùi Hồng C – sinh ngày 12 tháng 01 năm 2013 cho chị Lê Thị Băng T trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung do các bên đương sự tự thỏa thuận, Tòa án không xem xét, giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị Lê Thị Băng T với anh Bùi Trung T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 03-5-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thi

Bà Nguyễn Thị Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 411/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Băng T; cư trú tại thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Bùi Trung T1; cư trú tại thôn M, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị Băng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1 kết hôn với nhau do tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A vào ngày 06 tháng 4 năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại gia đình anh T1 ở thôn M, xã Đ, huyện A; đến năm 2015 thì vợ chồng thuê nhà ra ở riêng tại thôn V, xã Đ, huyện A. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi, chửi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2017, vợ chồng sống ly thân với nhau, không ai quan tâm và trách nhiệm với nhau. Nay chị Lê Thị Băng T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Bùi Trung T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Hồng C – sinh ngày 12 tháng 01 năm 2013, con chung hiện đang do anh Bùi Trung T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự tự thỏa thuận.

Về tài sản: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản.

Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Bùi Trung T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống của vợ chồng như chị Lê Thị Băng T đã trình bày là đúng. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp thường xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình, bạn bè khuyên ngăn nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ hơn một năm trở lại đây, hiện tại không còn có sự quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Nay chị Lê Thị Băng T xin ly hôn, anh Bùi Trung T1 có quan điểm nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Băng T, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị Lê Thị Băng T trình bày là đúng; con chung hiện do anh trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn anh đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và việc cấp dưỡng nuôi con do các bên đương sự tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:

- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự, các điều 51 và 55 Luật Hôn nhân và gia đình, xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1; về con chung, căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, giao con chung Bùi Hồng C – sinh ngày 12 tháng 01 năm 2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do các bên đương sự tự thỏa thuận. Về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Lê Thị Băng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các bên đương sự, các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1 kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào ngày 06 tháng 4 năm 2012. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nên thường xảy ra va chạm cãi, chửi nhau; vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình cần công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1.

[2] Về con chung: Chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1 có 01 con chung Bùi Hồng C – sinh ngày 12 tháng 01 năm 2013. Ly hôn cả chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy việc nuôi con chung vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo cho con chung được nuôi dạy trong điều kiện tốt nhất; điều kiện nuôi con của chị T tốt hơn anh T1 bởi lẽ chị T có nhà riêng, có thu nhập ổn định hơn anh T1, mặt khác con chung còn nhỏ, lại là con gái nên cần có sự chăm sóc của người mẹ do đó cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

[3] Việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung do các bên đương sự tự thỏa thuận, Tòa án không xem xét, giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản: Do đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị Băng T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; các điều 143 và 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các điều 6, 7, 9 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Băng T và anh Bùi Trung T1.

2. Về con chung: Giao con chung Bùi Hồng C – sinh ngày 12 tháng 01 năm 2013 cho chị Lê Thị Băng T trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung do các bên đương sự tự thỏa thuận, Tòa án không xem xét, giải quyết.

Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Băng T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Chị Lê Thị Băng T đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0015453 ngày 05 tháng 12 năm 2018) nên không phải nộp tiếp.

Các đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ