- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Xuân Q là cho anh Đỗ Xuân Q được ly hôn với chị Đậu Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/07/2019. V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN –TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trung Huyến và ông Vi Văn Tiệp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn.
Ngày 26 tháng 07 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Nghĩa Đàn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân Q, sinh năm 1966. Địa chỉ: xóm Lê Lai, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
2. Bị đơn: Chị Đậu Thị V, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm Lê Lai – xã Nghĩa Hiếu – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn, anh Đỗ Xuân Q trình bày: anh và chị Đậu Thị V là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An vào ngày 31/07/1991. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc. Năm 2016 chị Đậu Thị V bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú nêu trên đến nay. Anh Q đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức gì về chị V. Vào ngày 01/03/2018, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An đã tuyên bố chị Đậu Thị V mất tích theo Quyết định số 02/2019/QĐST-DS ngày 01/03/2019. Từ đó đến nay cũng vẫn không có tin tức gì của chị V. Vì vậy, nay anh Q làm đơn xin ly hôn với chị V.
Về con cái: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Thị Lan H, sinh ngày 06/08/1992 và Đỗ Xuân Ph, sinh ngày 24 tháng 04 năm 1998. Các cháu hiện nay đã thành niên và tự lập trong cuộc sống nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về tài sản: Anh Đậu Xuân Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị Đậu Thị V đã có quyết định của Tòa án về việc tuyên bố mất tích. Do vậy, Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật, ý kiến của Kiểm sát viên để giải quyết vắng mặt chị V.
Ý kiến của kiểm sát viên: Trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng, đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.Quan điểm về giải quyết vụ án: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Đậu Xuân Q là cho anh Q được ly hôn với chị Đậu Thị V; Về con cái đã trưởng thành nên không xem xét; về tài sản: đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ giữa anh Đỗ Xuân Q và chị Đậu Thị V là hôn nhân hợp pháp. Theo yêu cầu của anh Q ngày 01/03/2018, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An đã tuyên bố chị Đậu Thị V mất tích theo Quyết định số 02/2019/QĐST-DS ngày 01/03/2019. Từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của chị V. Theo quy định tại khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là căn cứ cho ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Q là cho anh Q được ly hôn với chị V.
Về con cái: vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Thị Lan H, sinh ngày 06/08/1992 và Đỗ Xuân Ph, sinh ngày 24 tháng 04 năm 1998. Các cháu hiện nay đã thành niên, có gia đình và tự lập trong cuộc sống nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản: Anh Đỗ Xuân Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 28; điều 35; điều 147, điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Xuân Q là cho anh Đỗ Xuân Q được ly hôn với chị Đậu Thị V.
2. Về nuôi con chung: Các con đều đã thành niên và tự lập trong cuộc sống nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Anh Đỗ Xuân Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001247 ngày 07 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
Báo cho anh Đỗ Xuân Q biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Đậu Thị V vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - TAND tỉnh; - UBND xã Nghĩa Hiếu; - Lưu hồ sơ vụ án; | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Viết Hà |