vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị Hoàng Thị K được ly hôn anh Đỗ Văn H.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Hoàng Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Hoàng N, sinh ngày 13/4/2014 đến khi đủ 18 tuổi, anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị K. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN AN K-H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị Hoàng Thị K được ly hôn anh Đỗ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2019
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Bích Thuỷ

Ông Trương Xuân Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Mạc Minh Song - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 55/2019/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2019 và quyết định hoãn phiên toà số 13/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 14/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị K, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn X, xã Động Quan, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị K trình bày: Chị và anh H kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Động Quan, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh H đi làm ăn xa, không quan tâm đến gia đình và có biểu hiện quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Tuy vậy nhưng chị K vẫn chấp nhận bỏ qua và khuyên bảo anh H quay về để vợ chồng cùng nhau làm ăn và nuôi dạy con cái nhưng anh H cương quyết không về. Nay chị K xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H.

Về con chung: Chị K và anh H có 01 con tên là Đỗ Hoàng Nam, sinh ngày 13/4/2014, khi ly hôn chị K nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị K xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Đỗ Văn H, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh không chấp hành, không đến Toà án và đều vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã hoàn thiện các thủ tục để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên toà Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục Tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56; các Điều 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị K được ly hôn anh Hvà giao cho chị K trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con chị K không yêu cầu, về tài sản chung, nợ chung chị K xác định không có nên hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên là đúng thẩm quyền về lãnh thổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 và Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị K và anh Đỗ Văn H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến Ủy ban nhân dân xã Động Quan, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp. .

Sau khi kết hôn chị K và anh Hsống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H đi làm ăn xa, không quan tâm đến gia đình và có biểu hiện quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Mặc dù chị K đã cố gắng khuyên bảo anh H quay về để vợ chồng cùng nhau làm ăn và nuôi dạy con cái nhưng anh H không về. Vì vậy chị K xin ly hôn anh H là có căn cứ.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoàng Thị K và anh Đỗ Văn H đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy chị K xin ly hôn anh H là có căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị K và anh Đỗ Văn H có 01 con tên là Đỗ Hoàng N, sinh ngày 13/4/2014, khi ly hôn chị K nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại chị K đang trực tiếp nuôi con, mặt khác anh H không đến Toà án để trình bày quan điểm của mình, vì vậy không có căn cứ để xem xét. Cho nên hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị K về việc nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị K xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị K phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UB-TVQH-14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là đúng pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị Hoàng Thị K được ly hôn anh Đỗ Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Hoàng Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Hoàng N, sinh ngày 13/4/2014 đến khi đủ 18 tuổi, anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị K.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0002474, ngày 05/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ