vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với anh Lê Văn Anh P.

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Anh P. * Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Lê Văn Anh P không cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với anh Lê Văn Anh P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 7 - 2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Duy Cửu

2. Bà Trần Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15.7.2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; trú tại: Tổ 2 thôn Q, xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Bị đơn: Anh Lê Văn Anh P, sinh năm 1985; trú tại: Tổ 2 thôn Q, xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn Anh P kết hôn vào ngày 14.7.2008, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Trong những năm chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân dường như địa ngục và lúc nào cũng trong tình trạng căng thẳng. Và vợ chồng đã ly thân được 6 năm. Nay không thể tiếp tục được nữa nên chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn Anh P.

- Về con chung: Chị và anh Lê Văn Anh P có 01 con chung là cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Văn Anh P trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn tại UBND xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, anh và chị H xảy ra mâu thuẫn, không thể sống chung. Anh và chị H sống ly thân đã được 6 năm. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.

Anh và chị H có 1 con chung là Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010, ly hôn chị H sẽ nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Vì công việc của anh rất bận nên không thể tham gia giải quyết vụ việc ly hôn và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Anh P; giao con chung là cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh Lê Văn Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lê Văn Anh P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Lê Văn Anh P đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án xét xử vắng mặt anh P.

Về nội dung vụ án:

Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn Anh P kết hôn ngày 14.7.2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng, đây là hôn nhân tự nguyện và đảm bảo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống chị H và anh P đã phát sinh mâu thuẫn. Chị H xác định nguyên nhân mâu thuẫn là trong những năm chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân dường như địa ngục và lúc nào cũng trong tình trạng căng thẳng, anh chị đã li thân được 6 năm và nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện vợ chồng chị H và anh P đang sống ly thân, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc ly hôn với anh Lê Văn Anh P là phù hợp.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn Anh P có 01 con chung là cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung là cháu Lê Văn Anh T hiện đang ở với mẹ nên cần được sự quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ; cháu T có nguyện vọng muốn ở với mẹ; đồng thời anh P cũng đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H giao con chung chưa thành niên cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn Anh P xác định không có.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị H phải chịu.

Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với anh Lê Văn Anh P.

2. Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Anh P.

* Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Văn Anh T, sinh ngày 15.5.2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Lê Văn Anh P không cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

* Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 2209 ngày 09.4.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ