vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Nguyễn Thị Lan A - Mai Văn T"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 22/8/2019.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy ông Bùi Đức Thập.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 122/2019/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2019 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H – Luật sư, Cty TNHH Nam Hải Law. Địa chỉ: Số nhà A, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương

- Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng:

+ Ông Mai Văn N, sinh năm 1964 và bà Lê Thị T, sinh năm 1965. Địa chỉ : Thôn Q, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương.

+ Bà Quách Thị D, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

( Chị Lan A, ông H, anh T, bà D có mặt; ông N và bà T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2019, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã L, huyện G đăng ký kết hôn vào ngày 27/12/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng trong cuộc sống nên nhiều lần vợ chồng xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Mặt khác anh T thường hay uống rượu đến khuya mới về, chị cũng đã nhắc nhở nhưng anh T không nghe, ngoài ra anh T còn bắt chị đưa tiền để cho anh tiêu, khi chị không đáp ứng được thì anh T đánh và đuổi chị ra khỏi nhà. Tháng 4 năm 2019 chị đã phải về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được xin ly hôn anh Mai Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Mai Tuyết H, sinh ngày 20/7/2017 hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng tài sản gì nên khi ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 07/6/2019 cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Mai Văn T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Lan A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn vào ngày 27/12/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng, thời gian đầu năm 2019 chị Lan A đòi đi nước ngoài làm ăn nhưng anh không đồng ý nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Tháng 4 năm 2019 chị Lan A đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lan A đề nghị ly hôn anh nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Mai Tuyết H, sinh ngày 20/7/2017 hiện đang ở với anh, sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị Lan A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng tài sản gì nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Lời khai của người làm chứng ông Mai Văn N và bà Lê Thị T là bố mẹ đẻ anh T xác định :Vợ chồng anh T, chị Lan A trong quá trình chung sống cũng đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính do mâu thuẫn về làm ăn kinh tế, vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau, bản thân chị Lan A không biết nín nhịn chồng nên khi vợ chồng xô sát cãi nhau chị đã về nhà đẻ ở, gia đình cũng đã khuyên giải cho hai vợ chồng nhưng cũng không có kết quả, tình cảm vợ chồng anh T, chị Lan A đã chấm dứt từ tháng 4/2019 đến nay nên không còn cơ hội đoàn tụ. Nay chị Lan A xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Lời khai của bà Quách Thị D là mẹ đẻ chị Lan A xác định: Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T và chị Lan A đã trầm trọng vì trong quá trình chung sống vợ chồng đã nhiều lần xảy ra đánh cãi nhau nên chị Lan A đã phải về nhà đẻ ở, mặc dù hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng cũng không có kết quả, nay chị Lan A xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A.

- Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T.

- Về con chung: Giao con chung là Mai Tuyết H, sinh ngày 20/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Lan A không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm dân sự ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện được UBND xã Liên H, huyện G, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, chị đã về nhà đẻ ở từ tháng 4/2019. Ngay từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện xin ly hôn, tại bản tự khai anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lan A xin ly hôn anh cũng nhất trí, tuy nhiên trong các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải anh T thay đổi quan điểm không nhất trí thuận tình ly hôn với chị Lan A. Để đánh giá tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Lan A và anh T, Tòa án đã xác minh tại chính quyền địa phương cũng như thân nhân của anh T và chị Lan A, kết quả xác minh thể hiện nguyên nhân vợ chồng anh T và chị Lan A xảy ra mâu thuẫn là do tính tình giữa hai vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng chung sống với nhau được thời gian hơn 02 năm nhưng đã nhiều lần xảy ra mẫu thuẫn, chị Lan A cũng đã nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, tình cảm vợ chồng đã chấm dứt từ tháng 4/2019 đến nay không thể đoàn tụ được nên thân nhân của anh T và chị Lan A cũng như đoàn thể, chính quyền địa phương có chung quan điểm đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật giải quyết theo yêu cầu của chị Lan A. Tại phiên tòa anh T và chị Lan A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn cơ hội đoàn tụ nên chị Lan A xin ly hôn anh T nhất trí thuận tình ly hôn. Xét thấy sự thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã nên HĐXX chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Mai Tuyết H, sinh ngày 20/7/2017, hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn chị Lan A và anh T đều có nguyện vọng được nuôi con, xét yêu cầu của anh T, chị Lan A thì thấy: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/ 2019 chị đã về nhà đẻ ở sở dĩ chị không được trực tiếp nuôi con là do anh T không cho chị mang con theo, trong khi con anh chị còn nhỏ vẫn cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ hơn, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con, do con chung chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình về nguyên tắc sẽ giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nếu không có thỏa thuận khác. Ngoài ra chị Lan A cũng chứng minh mình có đầy đủ điều kiện về chỗ ở, điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc cho con phát triển đầy đủ về thể lực, chí lực như những đứa trẻ khác. Từ những căn cứ trên, HĐXX xét thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu H nên giao cháu H cho chị Lan A được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Chấp nhập sự tự nguyện của chị Lan A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu án phí sơ thẩm dân sự ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lan A.

1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Mai Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Mai Tuyết H, sinh ngày 20/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Lan A được trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Lan A không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Lan A trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm dân sự ly hôn được khấu trừ vào số tiền chị Nguyễn Thị Lan A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0003705 ngày 02/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ