- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng VPBank - Vương Văn Mùi"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
| TßA ¸N NH¢N D¢N HuyÖn phóc thä - TP. Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -------------- Bản án số: 20/2019/DSST. Ngày: 10 - 7 -2019. V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Nh©n danh Níc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn phóc thä, thµnh phè hµ néi - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Ông"Hoàng"Đức"Ngọc" - C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Ông Nguyễn"Thái"Học." ¸n nh©n d©n huyÖn Phóc Thä, thµnh phè Hµ Néi. """"""""""Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện P T, thành phố Hà Nội tham gia pH toà: Bà"Khuất"Thị"Mỹ"Dung"– Kiểm sát viên. Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2019/TLST- DS ngày 28/02/2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST - DS ngày 06 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự: 1. Nguyên"đơn:"Ngân"hàng"TMCP"Việt"Nam"Thịnh"Vượng"(VPbank)." Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. tâm pháp luật ngân hàng SME và cá nhân. quản trị). - Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đỗ Trọng Khanh (có mặt). 2."Bị"đơn: Anh"Vương"Văn"M, sinh"năm"1991."(vắng mặt lần 2) Địa chỉ: Cụm 6, xã T H, huyện P T, thành phố Hà Nội. */"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan:" Chị Đỗ Thị H , sinh năm 1989; (vắng mặt lần 2). Địa chỉ: Cụm 6, xã T H, huyện P T, thành phố Hà Nội. | Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P T, thành phố Hà |
NỘI"DUNG"VỤ"ÁN:"
*/ Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cũng như tại pH tòa, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trình của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) bày như sau: Ngày 14/02/2016, anh Vương Văn M và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có ký kết Hợp đồng tín dụng số: LD1705500849, loại hình vay tín chấp, số tiền vay là 150.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng, lãi suất vay: 33%/ năm, điều chỉnh theo từng thời kỳ của ngân hàng VPBank, mục đích vay: vay tiêu dùng. Thực hiện Hợp đồng tín dụng, VPBank đã giải ngân và anh M đã nhận tiền theo đúng thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Vương Văn M đã trả cho Ngân hàng tính đến 10/2017, anh Vương Văn M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là: Tiền gốc là 8.927.686 đồng và tiền lãi là 32.572.762 đồng.
Sau đó anh Vương Văn M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ theo nội dung của hợp đồng tín dụng, từ ngày 24/11/2017, khoản vay của anh Vương Văn M đã chuyển sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn.
Ngân hàng VPBank yêu cầu anh Vương Văn M thánh toàn bộ tiền gốc 141.072.314 đồng, nợ lãi: 94.433.265 đồng và tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 12/03/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.
Trường hợp anh Vương Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng VPBank có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thẩm quyền tiến hành thi hành án theo quy định của pháp luật.
*/ Ý kiến của anh M: Do cần vốn làm ăn phát triển kinh tế nên ngày 14/02/2016, anh M có vay Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) theo Hợp đồng tín dụng số LD1705500849, loại hình vay tín chấp, số tiền vay là 150.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng, lãi suất vay: 33%/ năm, điều chỉnh theo từng thời kỳ của ngân hàng VPBank, mục đích vay: vay tiêu dùng.
Quá trình thực hiện hợp đồng đã trả cho VB Bank số tiền gốc 8.927.686 đồng và tiền lãi 32.572.762 đồng. Sau đó do kinh tế gia đình khó khăn nên không trả được ngân hàng nữa.
H nay anh M vẫn còn nợ Ngân hàng VP Bank khoản nợ như ngân hàng đã trình bày. Anh M có nguyện vọng trả dần khoản nợ trên.
*/ Chị Đỗ Thị H trình bày: Chị vợ của anh Vương Văn M, chị có biết anh M có vay Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) số tiền vay là 150.000.000 đồng nhưng không biết anh M vay cụ thể như thế nào. Số tiền trên là do anh M trực tiếp vay và sử dụng, chị không được sử dụng khoản tiền vay trên nên chị H không rõ.
Vì vậy chị H có ý kiến là không liên quan gì đến khoản vay của anh M với Ngân hàng VP Bank, mọi việc anh M phải giải quyết với Ngân hàng. Giải quyết như thế nào là tùy anh M.
*/ Ngày 14/3/2019 Ngân hàng VP Bank và anh Vương Văn M thống nhất khoản nợ và thỏa thuận như sau: Khoản nợ theo hợp đồng tín dụng số LD1705500849, tính đến ngày 11/3/2019 là: Tiền gốc 141.072.314 đồng, nợ lãi: 94.433.265 đồng. Trong thời hạn từ ngày 12/3/2019 đến ngày 20/5/2019 anh M thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng giảm tiền lãi là 35.930.154 đồng còn lại anh M phải thanh toán số tiền nợ gốc là 141.072.314 đồng và nợ lãi: 66.000.000 đồng. Nếu anh Vương Văn M không thanh toán như đã thỏa thuận trên thì anh M phải thanh toán toàn bộ tiền gốc 141.072.314 đồng, nợ lãi: 94.433.265 đồng và tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 12/03/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.Trường hợp anh Vương Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thẩm quyền tiến hành thi hành án theo quy định của pháp luật.
Tuy nH đến ngày 20/3/2019 Ngân hàng VPBank lại có đơn đề nghị thay đổi nội dung biên bản hòa giải với nội dung: Ngân hàng yêu cầu anh Vương Văn M phải trả toàn bồ nợ gốc, nợ lãi trong hạn, phạt chậm trả.
Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện P T, Thành phố Hà Nội có thông báo tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định chung.
Tại pH tòa phía đại diện Ngân hàng VPBank rút một phần yêu cầu về khoản tiền lãi phạt tính đến ngày 10/7/2019 là 28.212.795 đồng, còn lại anh M phải thanh toán số tiền gốc 141.072.314 đồng; tiền lãi trong hạn: 70.071.522 đồng tiền lãi quá hạn: 14.177.041 đồng, tổng số tiền là 225.320.877 đồng và tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 11/7/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký pH tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thời hiệu và thẩm quyền, Tòa án nhân dân huyện P T đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền. Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, việc xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Tại pH tòa, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank. Buộc anh Vương Văn M phải trả cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số: LD1705500849 tính đến ngày 10/7/2019 là tiền gốc: 141.072.314 đồng, tiền lãi trong hạn: 70.071.522 đồng; tiền lãi quá hạn: 14.177.041 đồng, tổng cộng là 225.320.877 đồng và tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 11/7/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.
Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi khiện của Ngân hàng VPBank về khoản lãi phạt chậm trả là với số tiền: 28.212.795 đồng.
Về án phí: anh Vương Văn M chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng VPBank.
NHẬN"ĐỊNH"CỦA"TÒA"ÁN:"
Sau khi ngH cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại pH tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Khi ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn của Ngân hàng Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) và anh Vương Văn M có hộ khẩu thường trú tại Cụm 6, xã T H, huyện P T, Thành phố Hà Nội nên Ngân hàng VP Bank khởi kiện đòi nợ theo Hợp đồng tín dụng, Tòa án nhân dân huyện P T, Thành phố Hà Nội thụ lý vụ án dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét các yêu cầu của Ngân hàng VPBank:
Ngày 14/02/2016 anh Vương Văn M và Ngân hàng VP Bank đã ký kết Hợp đồng tín dụng LD1705500849, loại hình vay tín chấp, số tiền vay là 150.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng, lãi suất vay: 33%/ năm, điều chỉnh theo từng thời kỳ của ngân hàng VPBank, mục đích vay: vay tiêu dùng. Quá trình giải quyết anh M thừa nhận có ký kết Hợp đồng trên, hai bên được tự do thỏa thuận ký kết hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh M đã trả lãi cho Ngân hàng đến ngày 25/10/2017 số tiền gốc 8.927.686 đồng và tiền lãi 32.572.762 đồng, sau đó do kinh tế khó khăn nên anh M không trả nữa. Do đó từ ngày 24/11/2017 Ngân hàng VPBank đã chuyển toàn bộ khoản nợ trên sang nợ quá hạn và nhiều lần có thông báo cho anh Vương Văn M đề nghị trả khoản nợ trên nhưng anh M không thực hiện nên đã vi phạm Điều 4 Phần II của Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thánh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử trong Hợp đồng tín dụng . Vì vậy, ngày 28/02/2019 Ngân hàng VPBank khởi kiện anh Vương Văn M yêu cầu trả khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng LD1705500849 là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Về khoản tiền gốc: Theo Hợp đồng tín dụng LD1705500849 ngày 14/02/2016 khoản tiền vay là 150.000.000đ, anh M thừa nhận đã trả được 8.927.686 đồng tiền gốc, hiện nay còn nợ 141.072.314 đồng tiền gốc là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về lãi suất: Tại mục III của Hợp đồng tín dụng LD1705500849 ngày 14/02/2016 quy định lãi suất cho vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi suất thực hiện theo phê duyệt cho vay của VPBank. Tại mục 2 của tờ trình phê duyệt của đơn vị cho vay 30% (dưới 2% GTTK VPSuper) + 3% (mất ĐKKD). Vì vậy, Ngân hàng VP Bank áp dụng lãi suất tại thời điểm ký kết hợp đồng là 33%/ năm và lãi suất quá hạn được tính không quá 150% lãi suất trong hạn là phù với quy định tại Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước về Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu lãi suất của Ngân hàng buộc anh M phải thanh toán khoản lãi theo như đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng.
Qua các tài liệu Ngân hàng cung cấp anh M đã trả tiền lãi đến 24/02/2017 32.572.762 đồng, còn lại tiền lãi tính đến ngày 10/7/2019 như sau: Tiền lãi trong hạn: 70.071.522 đồng và tiền lãi quá hạn: 14.177.041 đồng.
Về khoản tiền phạt chậm trả là 28.212.795 đồng tại pH tòa phía Ngân hàng VPBank có yêu cầu rút toàn bộ khoản tiền phạt chậm trả trên. Việc rút một phần yêu cầu của phía nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VP Bank. Buộc anh Vương Văn M phải trả cho Ngân hàng VPBank tổng số tiền gốc và lãi tình đến ngày 10/7/2019 là: 225.320.877 đồng; Trong đó: Tiền lãi trong hạn: 70.071.522 đồng và tiền lãi quá hạn: 14.177.041 đồng. Ngoài ra anh M còn phải trả cho VPBank tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 11/7/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.
Trường hợp anh Vương Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thẩm quyền tiến hành thi hành án theo quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Anh Vương Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả Ngân hàng VPBank số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.300.000đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005572 ngày 28/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P T, thành phố Hà Nội.
[6]."Về"quyền"kháng"cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
- Căn cứ các Điều 290, 302, 305, 351, 373, 471; 474 và Điều 478 của Bộ luật dân sự 2005;
- Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 35; Điều 39 khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT – NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước về Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận
Xử:"
1."Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vương (VPBank).
Buộc Vương Văn M phải trả cho Ngân hàng VPBank theo Hợp đồng tín dụng số LD1705500849 ngày 14/02/2016 tính đến ngày 10/7/2019 tổng số tiền cả gốc và lãi là: 225.320.877đ (Hai trăm hai mươi lăm triệu ba trăm hai mươi nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng); Trong đó: Tiền gốc 141.072.314đ (Một trăm bốn mươi một triệu không trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm mười bốn đồng); Tiền lãi trong hạn: 70.071.522đ (Bảy mươi triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi quá hạn: 14.177.041đ (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).
Ngoài ra anh Vương Văn M còn phải trả cho VPBank tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên kể từ ngày 11/7/2019 cho đến ngày anh Vương Văn M tất toán xong khoản vay tại VPBank.
Trường hợp anh Vương Văn M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Buộc anh Vương Văn M phải chịu 11.266.0000 đ (Mười một triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng VPBank số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.300.000đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005572 ngày 28/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P T, thành phố Hà Nội.
3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Vương Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.
Chị Đỗ Thị H có quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. N¬i nhËn
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn Phóc Thä; - CCTHADS huyÖn Phóc Thä; - Nh÷ng ngêi tham gia tè tông; - Lu hå s¬ vô ¸n. | T/M Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ """""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""Hoàng"Đức"Ngọc" |