vanban.org

Bản án 20/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc “Tranh chấp tiền nợ hụi” với bà Đặng Kim B.

Buộc bà Đặng Kim B trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc “Tranh chấp tiền nợ hụi” với bà Đặng Kim B.
  • Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/DS-ST
Ngày: 29-10-2019
V/v: “Tranh chấp về nợ hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các H i thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu

Bà Nguyễn Thị Quy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp về nợ hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-DS ngày 14/10/2019 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960.

Địa chỉ: 1530E, ấp P, xã P1, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Đinh Thị H, sinh năm 1984

Địa chỉ: số 1, ấp 2, xã N, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Bà Đặng Kim B, sinh năm 1958.

Địa chỉ: 1224, ấp T, xã P1, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn h i i n, l i hai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và ngư i đại di n theo ủy quyền bà Đinh Thị Thúy H trình bày:

Bà Đặng Kim B tham gia một chân hụi do bà Nguyễn Thị C làm chủ hụi, loại hụi đóng 2.000.000đ/tháng, khui ngày 15/10/2012. Chân hụi này gồm 21 người chơi, hụi có lãi. Ngày 15/5/2013 bà B hốt hụi được 29.060.000đ. Sau khi hốt hụi bà Ba vẫn đóng hụi chết hàng tháng đầy đủ, đến tháng 3/2014 cho cho đến thời điểm mãn hụi tháng 6/2014 thì bà B không đóng hụi chết nữa.

Nay bà C khởi kiện yêu cầu bà Đặng Kim B phải thanh toán cho bà C số tiền nợ hụi 04 tháng là 8.000.000đ và tiền lãi là 5.400.000đ, tổng cộng là 13.400.000đ. Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án bà B đã thanh toán được cho bà C số tiền 2.000.000đ, nên bà C rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc 2.000.000đ và tiền lãi, chỉ yêu cầu bà B thanh toán số nợ gốc 6.000.000đ.

- Theo l i hai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Kim B trình bày:

Tôi thống nhất với trình bày của bà C về quan hệ chơi hụi giữa tôi với bà C và dây hụi khui ngày 15/10/2012. Ngày 15/5/2013 tôi hốt hụi được số tiền 29.060.000đ, Sau khi hốt hụi tôi đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng, cho đến khi còn 04 tháng cuối với tổng số tiền là 8.000.000đ thì tôi không đóng tiếp nữa với lý do tôi gặp khó khăn; gần đây tôi đã trả được cho bà C số tiền 2.000.000đ, nên tôi xác định chỉ còn nợ bà C số tiền 6.000.000đ. Nay bà C khởi kiện tôi đồng ý thanh toán cho bà C số tiền 6.000.000đ.

Quan điểm của đại di n Vi n iểm sát nhân dân huy n Định Quán tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ gốc 2.000.000đ và tiền lãi 5.400.000đ; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ gốc 6.000.000đ. Buộc bà Đặng Thị Kim Ba phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị C số tiền 6.000.000đ.

Về án phí: Bà Đặng Kim B là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Đinh Thị Thúy H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn bà Đặng Kim B vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà H, bà B.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích quy định về thời hiệu khởi kiện cho các bên đương sự nhưng không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu, nên căn cứ vào Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu để giải quyết.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về nợ hụi” quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về áp dụng pháp luật: Giao dịch về hụi giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị C với bị đơn là bà Đặng Thị Kim B vào thời điểm từ ngày 15/10/2012 đến ngày 15/6/2014, đây là thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành và giao dịch về hụi này được quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005, dây hụi được kết thúc vào ngày 15/6/2014, nên giao dịch giữa hai người được xác định là đã được thực hiện xong. Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thì áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

[5] Về nội dung:

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của các bên đương sự và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án xét thấy giữa bà C, bà B có giao dịch chơi hụi, theo đó bà B tham gia dây hụi do bà C làm chủ hụi, loại hụi đóng 2.000.000đ/tháng, khui ngày 15/10/2012, kết thúc vào ngày 15/6/2014. Chân hụi này gồm 21 người chơi, hụi có lãi. Ngày 15/5/2013 bà B hốt hụi được 29.060.000đ. Sau khi hốt hụi bà Ba vẫn đóng hụi chết hàng tháng đầy đủ, đến tháng 3/2014 cho cho đến thời điểm mãn hụi tháng 6/2014 là 04 tháng thì bà B không đóng hụi chết nữa.

Nguyên đơn bà C khởi kiện cho rằng bà B còn nợ tiền góp hụi là 8.000.000đ; để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn đã cung cấp 01 giấy hụi (bút lục 07). Bị đơn bà B cũng thống nhất về giao dịch hụi với bà C, cũng như thừa nhận còn 04 tháng từ tháng 3/2014 đến tháng 6/2014 bà chưa chưa đóng tiền góp hụi. Do vậy đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5.1] Về số tiền nợ hụi gốc: Theo nguyên đơn trình bày, sau khi Tòa án thụ lý vụ án phía bị đơn bà B đã thanh toán được cho bà C số tiền 2.000.000đ, nên bà C rút một phần yêu cầu khởi kiện về khoản tiền này, chỉ còn yêu cầu bà B thanh toán số tiền 6.000.000đ. Phía bị đơn bà B cũng thống nhất về việc đã thanh toán cho bà C số tiền 2.000.000đ, bà B đồng ý thanh toán số tiền 6.000.000đ còn lại cho bà C.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định giữa bà C và bà B đã xác lập giao dịch theo quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005. Bà B còn nợ bà C số tiền góp hụi là 6.000.000đ, nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà C về việc yêu cầu bà B phải thanh toán số tiền 6.000.000đ là có cơ sở nên chấp nhận.

Đối với số tiền nợ hụi gốc 2.000.000đ, do nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện nên đình chỉ giải quyết đối với số tiền này.

[5.2] Về yêu cầu tiền lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện đối về số tiền lãi 5.400.000đ, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

[5.3] Đối với các vấn đề khác liên quan đến dây hụi khui ngày 15/10/2012, chốt ngày 15/6/2014 do bà C làm chủ hụi, 21 người tham gia góp hụi do không có tranh chấp nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Do bị đơn bà Đặng Kim B là người cao tuổi, đã có yêu cầu xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị C số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các l trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 92, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 474, 479 Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 357, 468, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc “Tranh chấp tiền nợ hụi” với bà Đặng Kim B.

Buộc bà Đặng Kim B trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu bà Đặng Kim B thanh toán số tiền nợ hụi 2.000.000đ (Hai triệu đồng) và tiền lãi 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm ngàn đồng).

3. Về án phí:

Bà Đặng Kim B được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền 335.000đ (Ba trăm ba mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002397 ngày 05/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ