vanban.org

Bản án 20/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Thân Văn L và bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Văn C 1000 kg cà phê nhân và 64.

Về án phí: Buộc ông Thân Văn L và bà Trần Thị H phải chịu 4.920.000đ (Bốn triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn C được nhận lại 2.547.000đ (Hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NGUYỄN VĂN C - THÂN VĂN L"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Thân Văn L và bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Văn C 1000 kg cà phê nhân và 64.
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Giao dịch điện tử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG
- -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/DS- ST
Ngày: 19 - 11 - 2019
“ V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Nguyễn Như Tạ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 215/2019/TLST- DS ngày 07 tháng 19 năm 2019 về việc:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐST - DS ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 - Có mặt.

Địa chỉ: B, xã R, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Bị đơn: Ông Thân Văn L, sinh năm 1969 - Có mặt.

Địa chỉ: B, xã R, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H, sinh năm 1973 - Có mặt.

Địa chỉ: B, xã R, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 - 6 - 2019 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:

Ngày 21 tháng 7 năm 2016 vợ chồng ông L, bà H có mượn của ông 1.000kg cà phê nhân, hai bên thỏa thuận tính tiền lãi bằng 200 kg, tổng cộng là 1.200 kg cà phê nhân, thời hạn trả nợ vào tháng 11 năm 2016 (âm lịch), việc vay mượn hai bên có lập văn bản. Ngoài ra, ngày 11 tháng 01 năm 2018 vợ chồng ông L, bà H tiếp tục vay của ông số tiền là 50.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, thời hạn trả nợ vào tháng 12 năm 2018, vợ chồng ông L, bà H đã trả tiền lãi 4.185.000 đồng. Mặc dù ông C đã đòi nợ nhiều lần nhưng vợ chồng ông L, bà H không chịu trả nợ cho ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Thân Văn L, bà Trần Thị H phải trả cho ông 1.200kg cà phê nhân và 50.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Thân Văn L trình bày: Thừa nhận và thống nhất số nợ và tiền lãi đã trả như ông C đã trình bày nhưng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện 1200kg cà phê nhân vì cho rằng vợ chồng ông đã trả hết số nợ này, cụ thể mùa cà phê năm 2016 ông C có tới nhà ông cân 400kg, còn lại 800kg ông C cho rằng còn đang nợ số tiền của N P nên nói vợ chồng ông ra đó trả, vợ chồng ông đã ra nhận nợ với P số tiền là 28.800.000đ (800x 36000đ/kg). Sau 03 tháng vợ chồng ông đã trả đủ cho N P số tiền trên. Đối với số tiền 50.000.000đ và tiền lãi, thì vợ chồng ông chấp nhận trả.

Người làm chứng bà Trần Thị P trình bày: Bà có mở tiệm mua bán tạp hóa ở thôn T, xã R quá trình mua bán có biết ông C, ông L, bà H. Tuy nhiên từ trước đến nay ông C không có nợ tiền bà và bà không có nhận số tiền nào từ vợ chông ông L, bà H.

Tại phiên tòa ông C chỉ yêu cầu vợ chồng ông L, bà H trả số cà phê thực tế đã mượn là 1000 kg cà phê nhân và số nợ 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thiết lập hồ sơ, thu thập chứng cứ đưa vụ án ra xét xử theo đúng theo quy định của pháp luật. HĐXX đúng thành phần, đảm bảo đúng trình tự thủ tục tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và tính lãi suất của số tiền vay theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đơn: Các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án cho thấy vợ chồng ông L, bà H có vay mượn của ông C 1000 kg cà phê nhân (ghi trong giấy mượn cà phê là 1.200 kg) và số tiền 50.000.000 đồng là có thật.

Đối với số tiền 50.000.000 đồng vay vào ngày 11 – 01 - 2018 các bên có thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng, thời hạn trả nợ vào tháng 12 năm 2018. Như vậy việc vay tiền giữa các bên là có thỏa thuận lãi suất và vay có kỳ hạn. Tuy nhiên, việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Như vậy, số tiền lãi tính từ 11/01/2018 đến ngày 19 – 11- 2019 (ngày xét xử sơ thẩm) là 19.000.000 đồng (50.000.000 x 20% : 12 x 22 tháng 08 ngày) trừ số tiền đã trả lãi 4.185.000 đồng, số tiền lãi còn phải trả là 14.815.000 đồng. Như vậy, vợ chồng ông L, bà H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông C số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng và 14.815.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 64.815.000 đồng.

Đối với 1000 kg cà phê nhân mượn ngày 21 tháng 7 năm 2016, vợ chồng ông L, bà H cho rằng đã trả cho ông C 400 kg cà phê nhân vào mùa cà phê năm 2016; còn lại 800kg vợ chồng ông đã ra nhận nợ với N P thay cho ông C số tiền là 28.800.000đ (800x 36.000đ/kg), ông C không thừa nhận nhưng đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình, mặc khác bà P cho rằng bà không nhận số tiền nào từ vợ chồng ông L, bà H và không có việc ông C vay tiền của bà. Do vậy việc ông L, bà H cho rằng đã trả nợ cho ông C 1200kg cà phê nhân là không có căn cứ. Tại phiên tòa các bên thừa nhận số cà phê mượn thực tế là 1000 kg và ông C chỉ yêu cầu trả 1000kg là phù hợp nên được chấp nhận.

Như vậy từ những vấn đề phân tích nêu trên có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và buộc ông Thân Văn L, bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Văn C 1000kg cà phê nhân và 64.815.000 đồng (trong đó 50.000.000 tiền nợ gốc và 14.815.000 đồng tiền lãi) là phù hợp.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông C được chấp nhận nên ông L, bà H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với số tiền 64.815.000 đồng và 1000 kg cà phê nhân có giá trị trên thị trường tại thời điểm xét xử 33.600.000 đồng (Hội đồng xét xử căn cứ Điều 10, 11 và 14 Luật Giao dịch điện tử để xác định giá cà phê ngày 19/11/2019 công bố trên Webside https://tintaynguyen.com/giá – ca-phe –doanh- nghiep/ và https://vietnambiz.vn/gia -ca - phe - hom – nay 19-11-2019 là 33.600 đồng/kg để làm cơ sở tính án phí)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Thân Văn L và bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Văn C 1000 kg cà phê nhân và 64.815.000 đồng (Sáu mươi tư triệu tám trăm mười lăm ngàn đồng), trong đó 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền gốc và 14.815.000đ (Mười bốn triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng) tiền lãi.

Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền 64.815.000 đồng theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Buộc ông Thân Văn L và bà Trần Thị H phải chịu 4.920.000đ (Bốn triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn C được nhận lại 2.547.000đ (Hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0009562 ngày 15/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ