- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| ``` TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN Thành phố Hồ Chí Minh | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HSST Ngày: 30.01.2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Viết Đức
Nghề nghiệp, nơi công tác: Bác sĩ Bệnh viện đa khoa huyện Hóc Môn.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Nghề nghiệp, nơi công tác: Cán bộ hưu trí.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2018/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-HS ngày 15.01.2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc S - sinh năm: 1984 tại: Tp. Hồ Chí Minh; Giới tính: nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 3, đường Trung Lang, phường A, Quận T, TP. Z; Chỗ ở: Nhà không số, tổ 8, ấp H, xã X, huyện Y, Tp. Z; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Ngọc S (chết) và bà Nguyễn Thị M; Tiền án: Ngày 05.01.2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt từ ngày 08 tháng 10 năm 2017 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 08.10.2017 tổ công tác công an xã Bà Điểm tuần tra khu vực, khi đến trước số nhà 39/3H ấp H thì bắt quả tang Nguyễn Ngọc S đang bán ma túy cho người nghiện Nguyễn Anh T. Thu giữ của T 01 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng là ma túy mới mua của S; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 xe gắn máy biển số 59P1-503.93. Thu giữ của S 01 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng, số tiền 180.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S không thu giữ gì thêm.
Quá trình điều tra S khai nhận: Bản thân nghiện ma túy, thường mua ma túy của người thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực Đồng Rừng thuộc ấp H, xã X về sử dụng. Vào khoảng 10 giờ ngày 08.10.2017 người nghiện quen với S tên T gọi điện thoại hỏi mua 01 tép ma túy giá 100.000 đồng thì S đồng ý bán và hẹn đến trước nhà số 39/3H ấp H, xã X, huyện Y giao ma túy. Khi đến địa điểm hẹn đang giao ma túy thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Đây là lần đầu tiên S bán ma túy cho T. Số tiền thu lợi bất chính là 100.000 đồng.
Lời khai của S phù hợp với lời khai của T về thời gian, địa điểm, số lượng ma túy đã mua bán.
Tại bản kết luận giám định số 1627/KLGĐ-H ngày 12.10.2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết quả:
Gói 1: Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Anh T và hình dấu Công an xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0197g, loại Heroine.
Gói 2: Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc S và hình dấu Công an xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0221g, loại Heroine.
Đối với người thanh niên không rõ lai lịch bán ma túy cho S, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với người nghiện Nguyễn Anh T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn chuyển hồ sơ về địa phương xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 02 gói niêm phong.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105.
- Số tiền 180.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 13/CTr-VKS ngày 08.01.2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ;
Sau khi nghe lời khai nhận tội của bị cáo;
Sau khi nghe ý kiến tranh luận và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về mức án đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vì mục đích vụ lợi cá nhân nên vào ngày 08.10.2017 khi có người nghiện hỏi mua ma túy bị cáo đồng ý bán và trong khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho người nghiện thì bị công an bắt quả tang cùng với tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ Luật Hình Sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Bị cáo thừa biết ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao, do đó đã bị nhà nước cấm mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào. Bản thân bất chấp mọi hậu quả lao vào con đường phạm tội, thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân.
Về nhân thân bị cáo Nguyễn Ngọc S:
Tiền án: Ngày 05.01.2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Để đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm lập lại trật tự an toàn trong xã hội, xét thấy hành vi của bị cáo cần phải có một mức án thật nghiêm tương xứng với mức độ và hành vi của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do vậy Hội đồng xét xử nghĩ cũng nên cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0197g, loại Heroine là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0221g, loại Heroine là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 105 bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung quỹ.
Đối với số tiền 180.000 đồng, trong đó có 100.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy nên Hội đồng xét thấy cần tịch thu sung quỹ nhà nước; còn lại 80.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 03 năm đến 04 năm tù là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 08.10.2017.
Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ Luật Hình Sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S nộp phạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước.
Áp dụng điểm a, b Điều 106 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0197g, loại Heroine và 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0221g, loại Heroine.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 100.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 105.
Trả lại cho bị cáo số tiền 80.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo chịu án phí HSST là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - Công an Tp. HCM; - VKSND HHM; - Công an HHM; - Chi Cục THA DS HHM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hoa |