- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HSST Ngày 16-10-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nông Văn Tràng.
2. Bà: Nông Thị Điềm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Sao - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2018/HSST ngày 21/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2018/QĐXXST-HS ngày 03/10/2018 đối với bị cáo:
Hoàng Đình H, sinh ngày 23/02/199x.
Sinh trú quán: Xóm BL, xã TĐ, huyện HL, Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Th và bà Nông Thị P; Vợ: Đàm Thị Thu L; Con: Có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, từ ngày 09/7/2018 đến nay. Có mặt.
Người bị hại: Anh Hà Văn L, sinh năm 197x, nơi cư trú: Xóm PM, xã TH, huyện HL, Cao Bằng. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Đàm Thanh T, sinh năm 200x, nơi cư trú: PM, TH, HL, Cao Bằng. Có mặt.
Lục Văn L, sinh năm 195x, nơi cư trú: BL, VQ, HL, Cao Bằng. Có mặt.
Người làm chứng: Hà Huy H, sinh năm 199x, nơi cư trú: NẾ, thị trấn TN, HL, Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 08/7/2018, Hoàng Đình H có hành vi trộm 01 xe máy Honda Waves 110 màu đen trắng, Biển kiểm soát 11F6-33xx của anh Hà Văn L, do con trai Đàm Thanh T mang lên thị trấn Thanh Nhật chơi. Sau khi trộm được xe, Hải đem cất giấu gần cầu KL đoạn giáp ranh giữa xóm HD và P Ph, đến 06 giờ sang ngày 09/7/2018 thì cùng Hà Huy H đem đi bán cho ông Lục Văn L được 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng chẵn). Sau khi bán xe, cả hai quay lại thị trấn TN thì bị Công an huyện Hạ Lang đưa lên trụ sở để điều tra làm rõ sự việc. Đồng thời tạm giữ số tiền 4.464.000đ (bốn triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn đồng chẵn) và 01 chìa khóa xe. Cùng ngày, Công an huyện đã thu hồi và tạm giữ chiếc xe mà H vừa bán cho ông L để phục vụ công tác điều tra.
Qua điều tra chứng minh được: Do không có tiền mua ma túy, nên ngày 08/7/2018 H đã có hành vi trộm chiếc xe của anh L do con trai mang lên chơi tại quán game Phùng Thị Hải Y, thuộc xóm HD, thị trấn TN. Sau khi trộm được xe, H đã tháo Biển kiểm soát vứt xuống suối, đến sáng ngày 09/7/2018, H đem xe trộm được bán cho ông Lục Văn L với giá 4.500.000đ, trưa cùng ngày 09/7/2018 thì bị bắt giữ. Chiếc xe H trộm, được Hội đồng định giá kết luận là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền 4.464.000đ thu giữ do H bán xe mà có; 01 chìa số 6727 là chìa khóa chiếc xe của H đã bán sang Trung Quốc.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSHL ngày 20/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố Hoàng Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H từ 09 đến 12 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe Honda Waves 110, màu đen trắng; trả số tiền 4.464.000đ cho ông L và tịch thu tiêu hủy chiếc chìa khóa có số 6727.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại anh L khai: Ngày 08/7/2018, con trai anh có mang chiếc xe biển kiểm soát 11F6-33xx lên thị trấn TN chơi, đến tối thì phát hiện xe đã bị mất trộm. Chiếc xe này anh mua với một người Trung Quốc không có Biển kiểm soát và giấy tờ xe với giá 7.500.000đ, sau đó anh lấy biển xe cũ ở nhà là 11F6-33xx gắn vào để phục vụ nhu cầu đi lại. Nay yêu cầu trả lại xe và xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T nhất trí với lời khai và yêu cầu của bố là Hà Văn L, không có gì bổ sung.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông L khai: Sáng ngày 09/7/2018, có gặp hai thanh niên lạ mặt rao bán chiếc xe cũ không có biển kiểm soát. Vì thấy giá rẻ và cần phương tiện phục vụ đi lại nên đã mua với giá 4.500.000đ. Trước khi mua ông không biết xe do trộm cắp mà có, nay đề nghị bị cáo trả lại số tiền 4.464.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, số tài sản bị mất và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Do cần tiền để mua ma túy sử dụng, nên ngày 08/7/2018, bị cáo H đã có hành vi trộm xe máy của anh Hà Văn L, sau đó đem bán cho ông Lục Văn L với giá 4.500.000đ
Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có ý thức che giấu và thực hiện hành vi một cách lén lút, là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, chiếm đoạt tài sản người khác nhằm mục đích bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an ninh tại địa phương. Tài sản bị cáo chiếm đoạt được Hội đồng định giá kết luận là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng chẵn). Như vậy, hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang truy tố bị cáo và đề nghị mức án theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 13/02/2018 vừa chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích thì ngày 08/7/2018 lại tiếp tục phạm tội mới. Nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo là người sử dụng ma túy, trước lần phạm tội này đã từng bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản. Điều này chứng tỏ bị cáo không chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với Lục Văn L và Hà Huy H: Trong quá trình giao dịch mua bán, ông L và anh H đều không biết tài sản do H trộm cắp mà có, nên Công an huyện Hạ Lang không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông L và anh H là có căn cứ.
. Về trách nhiệm dân sự: Do chiếc xe là vật chứng của vụ án đã bị thu hồi nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường bằng giá trị cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông L, theo yêu cầu của ông là 4.464.000đ đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Lang.
. Về vật chứng: Qua điều tra và tại phiên tòa chứng minh được, anh L mua chiếc xe Honda Waves 110, màu đen trắng với một người đàn ông Trung Quốc với giá 7.500.000đ, nhưng không xuất trình được các loại giấy tờ liên quan, vì vậy việc mua bán này là không hợp pháp, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy; 01 chìa kháo có số 6727, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; Số tiền 4.464.000đ, do bị cáo bán xe mà có, nên cần trả lại cho người đã mua xe là ông L.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Đình H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 09/7/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự 2015.
Bị cáo Hoàng Đình H phải có trách nhiệm bồi thường cho Lục Văn L, trú tại: BL, VQ, HL, Cao Bằng, số tiền 4.464.000đ (Bốn triệu bốn trăm sau mươi tư nghìn đồng chẵn), nhưng được trừ đi số tiền 4.464.000đ đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang.
4. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2; Điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Waves 110, màu đen trắng, không có Biển kiểm soát, số khung LTMPCHKA6J5004461, số máy SDH1P% FMHJ5002809.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe máy nhãn hiệu YAMAHA số 6727.
- Trả số tiền 4.464.000đ cho ông Lục Văn L. Trú tại: BL, VQ, HL, Cao Bằng.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang, theo biên bản ngày 21/9/2018.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Hoàng Đình H phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đã ký Nông Thị Điềm - Nông Văn Tràng
Nông Văn Tùng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện (02 bản); - Chi cục THA huyện; - UBND xã Thái Đức(bằng thông báo); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Tùng |