- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao D phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao D phạm tội: “ Cư ớp t ài sản ”. Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 13 3; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật h ình sự; Điều 13 Bộ luật h ình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH TỈNH KI ÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HSST Ngày 09/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử s
ơ th ẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ Tọa phi ên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Vũ Văn Hợp
2/ Ông Nguyễn Duy Kh ương
- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang
– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát vi ên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở T
òa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang, xét xử công khai s ơ thẩm vụ án h ình sự thụ lý số:
08/2018/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2018, về tội “C ư ớp tài sản” theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số: 21/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao D ; sinh ngày 17/4/1998; HKTT: ấp Hòa Phư ớc , xã Thạnh Lộc,
huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang ; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: L àm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Mai Th; sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ
, tạm giam từ ng ày 10/11/2017 cho đến nay (có mặt) .
Ngư ời bị hại:
1/ Anh Tô Vũ H ; sinh năm 1982 (vắng mặt)
2/ Anh Danh S; sinh năm 1983 (vắng mặt)
Cùng trú tại: ấp Thạnh H ưng, x ã Thạnh Lộc , huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang
Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan:
1/ Anh Huỳnh Văn N ; sinh năm 1998(vắng mặt)
HKTT: ấp Hòa Phư ớc , xã Thạnh Lộc, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang
2/ Anh Nguyễn Ngọc S ; sinh năm 1995 (vắng mặt)
3/ Anh Lê Tuấn A ; sinh năm 2000 (vắng mặt)
Cùng trú tại: ấp H òa Lộc, x ã Thạnh Lộc, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ
án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào khoả ng 22 giờ , ngày 19/2/2015 Huỳnh Văn N rủ Nguyễn Cao D đ ế n đoạ n đư ờ ng hành lang ven biể n phía Nam thuộ c ấ p Thạ nh Yên, xã Thạ nh Lộ c, huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang để chặn xe xin ti ề n thì D đồ ng ý, trên đư ờ ng đi N rủ thêm Nguyễn Ngọc S v à Lê Tuấ n A cùng tham gia. Sau đó, N hỏ i S có hàng không (tức l à có hung khí không) thì S trả l ờ i “có” rồi đi v ào nhà ông bà ngo ạ i củ a S lấ y mộ t cây dao tự chế làm bằ ng kim loạ i màu trắ ng dài 72cm, sắ c bén mộ t bề mang đế n đư a cho N. Cả b ố n bị cáo cùng đi bộ về hư ớ ng cầ u Đòn Dong, khi còn cách cầ u khoả ng 200m thì núp vào bóng cây cặp l ề đư ờ ng đón xe. Lúc này anh Danh S, sinh năm 1983 chở phía sau anh Tô Vũ H , sinh năm 1982 cùng cư ng ụ ấ p Thạ nh Hư ng, xã Thạ nh Lộ c đang điều khi ển xe môtô chạy đến . N sử dụ ng dao tự chế đứ ng ra chặn xe do bấ t ngờ nên anh S thắ ng gấp l àm cho xe ngã, anh H và S cùng bị té xuống đ ư ờng , khi H và S vừ a đứ ng lên thì N cầ m dao dọ a chém, khố ng chế anh H và yêu cầ u đư a tiề n. D cũ ng cầ m dao tự chế khố ng chế anh S. Tuấ n A và S đứ ng chặn phía sau c ủ a H và S. Anh H móc tuí lấ y ra 220.000 đồng (anh H khai nhớ khoả ng 206.000 đồng ) và đưa cho N, D tiế p tụ c yêu cầ u đư a bóp và điệ n thoạ i ra. H lấ y ra đư a cho D 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u NOKIA X1 và S thì đưa cho D cái bóp bên trong có 50.000 đồng và mộ t giấ y chứ ng minh nhân dân. D lấ y cái bóp sau khi kiể m tra thì trả l ạ i cho anh S 01 giấ y chứ ng minh nhân dân. Cùng lúc này có mộ t chiế c xe tả i chạ y đế n nên tấ t cả cùng bỏ chạ y xuố ng ruộ ng và tậ p trung về khu đấ t trố ng thuộ c khu công nghiệ p xã Thạ nh Lộ c N và D kiể m tra số tài sả n đã chiế m đoạ t đư ợ c là 270.000 đồng và 01 điệ n thoạ i di độ ng. N cấ t giữ tiề n, giao điệ n thoạ i lại cho D rồ i giả i tán đi về nhà. Sau đó D bỏ trốn đến ngày 10/11/2017 D bị bắt theo Q uyết định truy n ã số : 05 ngày 30/6/2015 của C ơ quan Cảnh sát điều tr a Công an huyện Châu Th ành, tỉnh Kiên Giang.
Tạ i kế t luậ n đị nh giá tài sả n số : 36 ngày 17/6/2015 củ a Hộ i đồ ng đị nh giá tài sả n trong tố tụ ng hình sự thuộ c Ủ y ban nhân dân huyệ n Châu Thành, kế t luậ n: 01 điệ n thoạ i di độ ng Nokia X1, màu đen, đã qua sử dụ ng trị giá 375.000 đồ ng; 01 bóp da không nhãn hiệ u, loạ i thư ờ ng màu vàng trị giá 50.000 đồ ng.
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
01 điện thoại di động hiệu NOKIA X1, m
àu đen, số Imel 359583/05061730/9 .
Trong vụ án này đố i vớ i Huỳ nh Văn N, Nguyễ n Ngọ c S và Lê Tuấ n A đã đư ợ c Tòa án nhân dân huyệ n Châu Thành, tỉ nh Kiên Giang đưa ra xét x ử vào ngày 18/9/2015 tạ i bả n án hình sự sơ th ẩ m số : 68/2015/HSST ngày 18/9/2015.
Về trách nhiệm dân sự:
Nguyễ n Ngọ c S, Huỳnh Văn N và Lê Tuấn A đ ã khắc phục xong hậu quả
nên đề nghị không xem xét.
Về phía bị c áo Nguyễn Cao D đã bồi th ư ờng xong cho phía bị hại n ên không xét.
Tại bản cáo trạng số
: 15/CTr- VKS ngày 22/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố bị cáo
Nguyễn Cao D về tội: “Cư ớp t ài sản ” theo điểm a, d khoản 2 Điều 133 Bộ luật h ình sự.
Tại phi ên tòa, đại diệ n Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố bị
cáo Nguyễn Cao D phạm tội: “ Cư ớp t ài sản ” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 133; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46
; Điều 47; Điều 69; Điều 74 và Điều 33 Bộ luật h ình sự, xử phạt bị cáo
Nguyễn Cao D từ 03 đến 04 năm tù.
Về biện pháp t ư pháp đ ề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS
năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017
và Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động hiệu NOKIA
X1, màu đen đã bị h ư h ỏng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân huyện Châu Th ành.
Bị cáo đ ư ợc nói lời nói sau c ùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phi
ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh
ư sau:
- Về h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ l uật Tố tụng h
ình sự. Quá tr ình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h
ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng. Do đó, các h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan ti ền h ành tố tụng, ngư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phi ên tòa, bị cáo đã thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình như
bản Cáo trạng đ ã nêu, lời khai của bị cáo ph ù hợp với lời khai tại C
ơ quan đi ều tra
và phù hợp với các t ài liệu, chứng cứ khác có trong
hồ s ơ, th ể hiện: Do không có
tiền để ti êu xài cá nhân nên vào khoảng 22 giờ, ng ày 19 /02/2015 Huỳnh Văn N rủ
Nguyễn Cao D cùng Nguyễn Ngọc S v à Lê Tuấn A đi đến đoạn đ ư ờng vắng thuộc
ấp Thạnh Y ên, xã Thạnh Lộc, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang để c ư ớp t ài sản
chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý
. Trư ớc khi đi S lấy theo 01 cây dao tự chế bằng
kim loại d ài khoảng 72 cm đưa cho N đ ể l àm hung khí gây án. Sau đó cả nhóm đi
bộ về h ư ớng cầu Đ òn Dong, khi còn cách cầu khoảng 200m th ì tất cả núp v ào
bóng cây bên lề đư ờng để đón xe đi ngang qua , cùng lúc này cả nhóm thấy anh
Danh S điều khiển xe môtô mang biển số 68S5
- 6125 chở phía sau anh Tô Vũ H
đang chạy đến n ên D, N, S và Tuấn A đi ra chặn xe anh S lại. D và N dùng dao
khống chế anh S và anh H để nhằm cư ớp đoạt 01 điện thoại di động hiệu NOKIA
X1 và số tiền 220.000đồng
của anh H , cư ớp đoạt của anh S 01 cái bóp da b ên
trong có 50.000đồng. Sau khi phạm tội D đã bỏ trốn đến ng ày 10/11/2017 D bị bắt
theo quyết định truy n ã. Theo kết quả định giá t ài sản th ì chiếc điệ n thoại m à D
cùng đồng bọn c ư ớp của bị hại có giá trị l
à 375.000 đồng v à cái bóp có kết quả
định giá l à 50.000 đồng. T ổng giá trị t ài sản m à D cùng đồng bọn c ư ớp đoạt của
các bị hại là 695.000đồng. Đối chiếu theo quy tại Điều 133 BLHS thì “1. Ngư ời
nào dùng vũ lực, đe doạ d
ùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có h
ành vi khác làm
cho ngư ời bị tấn công lâm v ào tình trạng không thể chống cự đ
ư ợc nhằm chiếm
đoạt t ài sản, th ì bị phạt t ù từ ba năm đến m ư ời năm. 2 Phạm tội thuộc một trong
các trư ờng hợp sau đây, th ì bị p hạt t ù từ bảy năm đến m ư ời lăm năm: a) Có tổ
chức ; ……..; d) Sử dụng vũ khí, ph
ương ti ện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; ..…”
.
Như v ậy, việc bị cáo c ùng đồng bọn tổ chức lại với nhau
thành băng nhóm rồi chuẩn
bị dao l à vũ khí nguy hiểm để khống chế uy hiếp tinh thần buộc
anh S và anh H phải
giao tài sản cho bị cáo c ùng đồng bọn đã đủ yếu tố cấu th
ành tội “Cư ớp t ài sản ”
đư ợc quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 133 BLHS
như đ ã viện dẫn ở trên.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo l
à rất nguy hiểm cho xã hội , bởi bản thân bị cáo nhận thức đ ư ợc “Cư ớp t ài sản” l à hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghi êm trị nếu nh ư c ố ý vi phạm . Thế nh ưng ch ỉ v ì muốn có tiền để thỏa m
ãn cho nhu cầu ti êu xài cá nhân, không phải tốn công lao động n ên bị cáo đ ã cùng với đồng bọn
tụ tập lại với nhau th ành băng nhóm rồi chuẩn bị hung khí là dao nhọn và chọn thời điểm là đem tối vắng ng ư ời qua lại để ra tay thực hiện h
ành vi cư ớp t ài sản . Trong vụ án n ày cho thấy, sau khi b àn bạc xong các bị cáo phục kích
gần cầu Đ òn Dong và khi nhìn thấy xe anh S chở phía sau anh H đang đi tới thì ngay lập tức bị cáo c ùng đồng bọn
chạy ra chặn đầu xe anh S lại , bị cáo c ùng đồng bọn d ùng dao khống chế anh S v à anh H làm cho anh S và anh H hoản sợ không dám kháng cự v
à phải giao t ài sản cho bị cáo c ùng đồng bọn . Hành vi phạm tội của bị cáo không những đ
ã trực tiếp xâm phạm đến t
ài sản hợp pháp của ng ư ời bị hại m à còn gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, gián tiếp l àm giảm l òng tin của ng ư ời dân v ào sự quản lý an ninh trật tự
tại địa ph ương nơi x ảy ra vụ án . Với h ành vi phạm tội n êu trên, HĐXX nghị án thảo luận cần có mức án tương x ứng v à cần tách ly bị cáo ra khỏi đời sống x
ã hội một thời gian nhất định nhằm để răn đe, giáo dục v à phòng ngừa chung cho x ã hội .
- Xét về t ình tiết tăng nặng: Bị cáo không có t ình tiết tăng nặng đ ư ợc quy định tại Điều 48 BLHS . Tuy nhiên, theo như h ồ s ơ th ể hiện th ì sau khi phạm tội bị cáo đ ã bỏ trốn khỏi địa ph ương gây khó khăn ch o việc điều tra và truy tố vụ án m ãi cho đến ng ày 10/11/2017 Cơ quan C ảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành mới bắt đ ư ợc bị cáo theo quyết định truy n ã. Do đó, HĐXX khi nghị án cần xem xét mức h ình phạt đối với bị cáo mới l à thỏa đáng.
- Xét về t ình tiết giảm nhẹ: Tại phi
ên tòa bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án tiền sự;
bị cáo đ ã tích cực động vi ên gia đình trả lại tiền khắc phục hậu quả
cho ngư ời bị hại n ên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đ
ư ợc quy định tại điểm
b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật h ình sự. Ngoài ra cho thấy tại thời điểm phạm tội bản thân bị cáo vẫn ch
ưa thành niên nên khả năng nhận thức pháp luật có
phần c òn hạn chế n ên cần áp dụng nguy ên tắc xử lý đối với ng ư ời ch ưa thành niên ph ạm tội đ ư ợc quy định tại Điều 69 v
à khoản 1 Điều 74 BLHS cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều t ình tiết giảm nhẹ đ ư ợc quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật h
ình sự n ên HĐXX áp dụ ng thêm Điều 47 Bộ luật h ình sự sẽ xem xét hình phạt khi lư ợng h ình nhằm có mức án ph ù để cải tạo, giáo dục
bị cáo chở thành một công dân tốt sống có í
t cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng v
à Nhà nư ớc.
- Xét đề nghị của vị đại diện
Viện kiểm sát tại p hiên tòa về việc định tội danh cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l
à có căn cứ pháp luật . Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy bị cáo có nhiều t
ình tiết giảm nhẹ đ ư ợc quy định tại Điều 46 BLHS và tại thời điểm phạm tội bị cáo vẫn ch
ưa thành niên nên k hả năng nhận thức pháp luật c òn hạn chế. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ th
êm một phần h ình phạt cho bị cáo mới l à phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự:
6.1 Do phần bồi th ư ờng thiệt hại đ ã đư ợc N, S và Tuấn A bồi th ư ờng cho ngư ời bị hại l à anh Tô Vũ H và anh Danh S xong tại bản án số : 68/2015/HSST ngày 18/9/2015 của T òa án nhân dân huyện Châu Th ành , tỉnh Ki ên Giang. Do đó, anh H và anh S không có yêu cầu bị cáo D phải bồi th ư ờng gì thêm nên HĐXX không xem xét.
6.2 Trong quá trình điều tra bị cáo D đã tích cực động vi ên gia đình bồi th ư ờng
lại số tiền 50.000 đồng cho ng ư ời bị hại
anh Tô Vũ H . Hiện tại anh H đã nhận đủ số tiền tr ên và cũng không y êu cầu bị cáo phải bồi th
ư ờng g ì thêm nên HĐXX không xem xét.
- Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứn
g: Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA X1, m àu đen mà bị cáo đ ã cư ớp đoạt của ng
ư ời bị hại anh
Tô Vũ H hiện điện thoại đ ã bị h ư h ỏng n ên anh H không nhận lại chiếc điện thoại tr ên nên căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017
và Điều 106 BLTTHS năm 2015 cần xử tịch thu ti êu hủy l à phù hợp.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí H
ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao D phạm tội: “ Cư ớp t ài sản ”. Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 13 3; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47
; Điều 69; khoản 1 Điều 74 và Điều 33 Bộ luật h ình sự năm 1999 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2009
, xử phạt bị cáo Nguyễn Cao D 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng ày 10/11/2017.
Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 BLHS năm
2015 đư ợc sữa đổi b
ổ sung năm 2017 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử tịch thu ti êu hủy 01 điện thoại di động hiệu NOKIA X1, m àu đen đã hư h ỏng .
Vật chứng tr ên hiện Chi cục Thi h ành án dân sự huyện Châu Th ành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số:
07/QĐCGVC ngày 17/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
Về áp phí áp dụng khoản 2
Điều 99 BLTTHS và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử buộc bị cáo
Nguyễn Cao D phải nộp 200.000đồng tiền án phí H
ình sự s ơ th ẩm.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ng ày kể từ ng ày tuyên án sơ th ẩm. Báo cho ngư ời bị hại
và ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan vắng mặt tại phi ên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận hoặc ni êm yết bản án. Nơi nh ận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
- TAND tỉnh Ki ên Giang;
| - Sở t ư pháp t ỉnh Ki ên Giang; - VKSND huyện Châu Th ành; - Công An huyện Châu Th ành; - Chi cục THADS huyện Châu Th ành; - Bị cáo; ng ư ời bị hại v à NLQ; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ Tọa phi ên Tòa Nguyễn Thanh Phong |