vanban.org

Bản án 20/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 13/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nông Thanh C 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 16 tháng 3 năm 2018.

Về phần dân sự, áp dụng Điều 584; 585; 589; Điều 274; khoản 5 Điều 275; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nông Thanh C với bà Bùi Thị B, anh Hoàng Anh V, bà Nguyễn Thị M1 cụ thể là: Bị cáo Nông Thanh C phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 7… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NÔNG THANH C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nông Thanh C 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 16 tháng 3 năm 2018.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS-ST
Ngày: 13 - 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa : Ông Lương Đình Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Tuyết Mai

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Minh Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2018 tại: Phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 14/2018/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nông Thanh C; giới tính: Nam; sinh ngày 03 tháng 7 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu và nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Nông Văn C, sinh năm 1959 và bà Lê Thị P, sinh năm 1958 có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1994 và có 01 con, sinh năm 2014; anh, chị em ruột: Có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Không có án tích và bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 16/3/2018 đến nay, có mặt.

- Người bị hại:

Anh Hoàng Anh V, sinh năm 1992, có mặt.

Bà Bùi Thị B, sinh năm 1973, có mặt.

Đều thường trú tại: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn B1, sinh năm 1975; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

Anh Nông Văn M, sinh năm 1982; trú tại: Thôn N1, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1965; trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 3 năm 2018 Nông Thanh C mượn xe mô tô nhãn hiệu SYM, mầu xanh, biển kiểm soát: 11F5-1224 của ông Lê Văn B1. Sau đó C điều khiển xe đi theo Quốc lộ 4A xuống xã K, huyện T mục đích để tìm trộm cắp tài sản, khi đến nhà bà Bùi Thị B trú tại Thôn B, xã K, huyện T. C quan sát thấy nhà khóa cửa không thấy có người, C đi vào đằng sau nhà bếp bắt trộm 02 con gà mái đang ấp trong ổ ở trên chuồng lợn đút vào bao tải dứa, rồi lấy thang ở hiên nhà kê lên tường rào trèo vào trong bếp bắt 03 con gà mái tơ, 01 con gà trống thiến ở trong chuồng cho vào bao tải và lấy 01 bao thóc nếp cùng 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu HONDA đặt lên nắp bể nước rồi tiếp tục đi lên nhà chính lục tìm trộm được 3.700.000 đồng ở trong túi áo khoác của Hoàng Anh V treo trong tủ kệ đặt Ti vi ở phòng khách, rồi đem số gà ra bụi cây cách nhà Bùi Thị B khoảng 100m cất giấu, do không buộc miệng bao tải nên bị xổng mất 01 con gà trống thiến, có trọng lượng khoảng 2,5kg, xong quay lại vận chuyển các tài sản trộm được ra chỗ xe mô tô và chở toàn bộ tài sản trộm được đi đến nhà bà Nguyễn Thị M1 tại thôn B, xã Đ, huyện T bán bao thóc nếp 43 kg, được 340.000 đồng và bán 04 con gà mái còn sống có tổng trọng lượng 6,4 kg, được 430,000 đồng, còn 01 con đã chết có trọng lượng khoảng 1,2 kg C cho bà M1 làm thịt, còn chiếc máy cắt cỏ C đem đến nhà anh Nông Văn M tại thôn N1, xã Đ, huyện T gửi. Số tiền và tài sản trộm cắp bán được, tổng cộng là 4.470.000đ C đem đi đánh bạc và mua ma túy sử dụng hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/TCKH, ngày 16/3/2018 và bản kết luận định giá số: 07/TCKH, ngày 16/4/2018 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tràng Định kết luận giá trị tài sản: 01 máy cắt cỏ có giá trị 2.450.000 đồng; 01 bao thóc nếp 43kg giá trị 645.000 đồng; 7,6kg gà mái có giá trị là 950.000 đồng; 2,5 kg gà trống thiến có giá trị 300.000 đồng. Tổng giá trị những tài sản trên là 4.345.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 20/CT-VKSTĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để xét xử đối với Nông Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Taị phần tranh luận Vị đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo Nông Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù và đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về tang vật đề nghị Hội đồng xét xử xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Về phần dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể: Bị cáo Nông Thanh C phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Bùi Thị B 850.000 đồng, cho anh Hoàng Anh V 3.700.000 đồng, cho bà Nguyễn Thị M1 770.000 đồng.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì, nhất trí với lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2018 Nông Thanh C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 11F5-1224 đến nhà bà Bùi Thị B trú tại: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn thấy nhà không có người ở nên đã lẻn vào trộm được 06 con gà, 01 bao thóc nếp, 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu HONDA và 3.700.000 đồng tiền Việt Nam. Qua định giá, 06 con gà, 01 bao thóc nếp, 01 máy cắt cỏ: Có tổng giá trị là 4.345.000 đồng; Tổng cộng số tài sản Nông Thanh C trộm được là 8.045.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá trên 2.000.000 đồng là đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nông Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Nhận thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây dư luận xấu trong nhân dân, bị cáo là người lười lao động nhưng lại muốn có tài sản để tiêu sài các nhân, nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác bất hợp pháp, do đó, cần phải xử lý bị cáo về hình sự và cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Thấy tại phiên toà và tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn và bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, chưa có án tích hoặc bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính. Về hình phạt bổ sung, thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về phần dân sự, tại phiên tòa bị cáo với bà Nguyễn Thị M1 tự nguyện thỏa thuận cụ thể, bị cáo Nông Thanh C phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị M1 770.000 đồng và bị cáo phải bồi thường cho bà Bùi Thị B 850.000 đồng, cho anh Hoàng Anh V 3.700.000 đồng. Thấy sự thỏa thuận không trái với pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên.

Về vật chứng, xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu gồm: 01 máy cắt cỏ, 01 bao thóc nếp, 04 con gà mái cho bà Bùi Thị B; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, mầu xanh, biển kiểm soát: 11F5-1224 cho ông Lê Văn B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cho anh Nông Văn M. Còn số tiền 1.125.000 đồng tiền Việt Nam và 01 phong bì niêm phong số tiền 400 đồng tiền Trung Quốc, là tiền của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với bà Nguyễn Thị M1 đã mua gà và thóc nếp với C, do không biết tài sản này C phạm tội mà có. Nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý M1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nông Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nông Thanh C 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 16 tháng 3 năm 2018.

Về phần dân sự, áp dụng Điều 584; 585; 589; Điều 274; khoản 5 Điều 275; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nông Thanh C với bà Bùi Thị B, anh Hoàng Anh V, bà Nguyễn Thị M1 cụ thể là: Bị cáo Nông Thanh C phải hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 770.000đ (Bẩy trăm bẩy mươi nghìn đồng), phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bà Bùi Thị B 850.000đ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng), cho anh Hoàng Anh V 3.700.000đ (Ba triệu bẩy trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Nguyễn Thị M1, bà Bùi Thị B, anh Hoàng Anh V có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Nông Thanh C không thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải trả lãi tương ứng với số tiền chậm trả theo quy định Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Việc xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử lý như sau:

Xác nhận cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả: 01 máy cắt cỏ, 01 bao thóc nếp, 04 con gà mái cho bà Bùi Thị B; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, mầu xanh, biển kiểm soát: 11F5-1224 cho ông Lê Văn B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cho anh Nông Văn M.

Trả lại cho bị cáo Nông Thanh C số tiền 400đ (Bốn trăm đồng) tiền nhân dân tệ Trung Quốc được niêm phong trong 01 phong bì, nhưng tạm giữ và quy đổi thành tiền Việt Nam đồng để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Nông Thanh C 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi năm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. Số tiền trên hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số: 3949.0.1054413.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy ủy nhiệm chi số 08 ngày 15/5/2018 của Kho bạc Nhà nước huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nông Thanh C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung công quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người đó.

Cỡ chữ