- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thanh T và Phạm Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HS-ST Ngày 14/6/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Huỳnh Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Long.
- Ông Dương Minh Ngọc.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mùi - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Đỗ Thanh T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1993 tại: Núi Thành, Quảng Nam. HKTT + chỗ ở: Thạch K - Tam X - Núi Th - Quảng Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Đỗ Th, sinh năm: 1970 và bà Lê Thị H, sinh năm: 1970. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Phạm Văn C; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1993 tại Núi Thành, Quảng Nam; HKTT + chỗ ở: Thạch K - Tam X - Núi Th - Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm: 1968 và bà Phạm Thị Ph, sinh năm: 1967. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH Xây dựng công trình Hỏa T.
Địa chỉ trụ sở: số 01 đường số 6, khu phố 1, phường Thạnh Mỹ L, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn Kh; Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; Trú tại: xã Quế T, huyện Quế V, tỉnh Bắc N. Chức vụ: Phó giám đốc. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1968, trú tại: thôn Thạch K, xã Tam X, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Đỗ Th, sinh năm: 1970, trú tại: thôn Thạch K, xã Tam X, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 02/01/2018, khi đang uống cà phê tại thôn Thạch K, xã Tam X, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam thì Đỗ Thanh T có bàn bạc với Phạm Văn C cùng nhau trộm ống nước của Công ty TNHH Xây dựng công trình Hỏa T đang thi công đường ống dẫn nước của nhà máy nước BOO Phú Ninh tại thôn Bích S, xã Tam X, huyện Núi Th để về bán lấy tiền. Thế bảo C sử dụng xe mô tô của C còn T về nhà lấy xe cộ của gia đình mình để đi trộm cắp.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô BKS: 92N1-171.68 (do C đứng tên đăng ký chủ sở hữu) chở T ngồi sau kéo theo một xe cộ của gia đình T đến khu vực hệ thống đường ống trên. Khi thấy một co nối ống nước bằng kim loại phi 800, dài 146 cm nằm riêng ngoài đất cách đường chính thôn Bích S khoảng 10m mà không có ai trông coi, T và C lăn co nối ống nước này xuống đường rồi đưa lên xe cộ chở về nhà của C cất giấu gần chuồng trâu rồi về nhà ngủ. Tiếp đến vào khoảng 23 giờ ngày 04/01/2018, C điều khiển xe mô tô BKS: 92N1-171.68 chở T ngồi sau kéo theo xe cộ nhà C lên vị trí mà cả 02 đã trộm trước đây. T và C đã trộm 02 đoạn ống dẫn nước (bằng kim loại,phi 800, trong đó 01 đoạn ống dài 170cm và 01 đoạn ống dài 70cm) chở về cất giấu ở khu vực trồng chuối trước nhà C.
Đến ngày 05/01/2018 ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, là Phó giám đốc công ty TNHH Xây dựng Công trình Hỏa T, đang quản lý thi công công trình phát hiện bị mất một số ống nước nên làm đơn báo cáo Công an xã Tam X. Công an xã Tam X phối hợp với Đội XDPT và PTX về ANTT Công an huyện Núi Th tổ chức xác minh, truy tìm thì phát hiện toàn bộ tài sản bị mất đang ở nhà C nên lập biên bản tạm giữ.
Tại bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Núi Thành kết luận:
- 01 co nối ống dẫn nước bằng kim loại, dài 146cm, dạng tròn, đường kính 81,3cm, dày 0,8cm đã qua sử dụng là: 5.100.000 đồng;
- 01 ống dẫn nước bằng kim loại dài 170cm, đường kính 81,4cm, dày 0,8cm, đã qua sử dụng là: 5.900.000 đồng;
- 01 ống dẫn nước bằng kim loại dài 70cm, đường kính 81,5cm, dày 0,8cm, đã qua sử dụng là: 2.400.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Toàn bộ số tài sản bị mất và 02 xe cộ đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành trả lại cho chủ sở hữu.
- Hiện đang tạm giữ: 01 xe mô tô BKS: 92N1-171.68, nhãn hiệu Yamaha – Sirius, màu sơn: Đỏ - đen.
Vấn đề dân sự: Toàn bộ tài sản bị mất đã được thu hồi, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn bãi nại.
Tại Bản cáo trạng số 17/QĐ-VKS ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Đỗ Thanh T và Phạm Văn C về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo T, C về tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng; xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
Đại diện bị hại thừa nhận phía Công ty TNHH xây dựng công trình Hỏa T cũng có một phần trách nhiệm là khi làm xong công trình Công ty đã cho công nhân nghỉ, lán trại đã tháo dỡ nhưng những đoạn ống nước ( tài sản các bị cáo trộm) công ty vẫn để tại hiện trường không có người trông coi nên các bị cáo nghĩ rằng tài sản đó không sử dụng nữa. Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không khiếu nại về dân sự cũng như hình phạt, bị hại đã bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa, làm lại cuộc đời.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo Đỗ Thanh T và Phạm Văn C khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 02/01/2018, bị cáo Đỗ Thanh T và Phạm Văn C đã cùng nhau bàn bạc, chuẩn bị công cụ như xe mô tô, xe cộ để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo T và C lên tại công trình đường ống dẫn nước của nhà máy nước BOO Phú Ninh thuộc thôn Bích S, xã Tam X, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam trộm cắp 01 co nối ống dẫn nước bằng kim loại, phi 800, dài 146cm, dạng tròn, đường kính 81,3cm, viền ống dày 0,8cm của Công ty TNHH xây dựng Công trình Hỏa T có giá trị 5.100.000 đồng.
Khoảng 23 giờ ngày 04/01/2018, các bị cáo T và C tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tại địa điểm trên 01 ống dẫn nước bằng kim loại phi 800, dài 170cm, dạng tròn, đường kính 81,4cm, viền ống dày 0,8cm và 01 ống dẫn nước bằng kim loại dài 70cm, đường kính 81,5cm, dày 0,8cm với tổng giá trị là 8.300.000 đồng.
Tổng cộng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 13.400.000 đồng.
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản số 13/2018/KLGTS ngày 01/2/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Núi Thành và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà, do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đỗ Thanh T và Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm một cách bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị. Tuy các bị cáo cho rằng bản thân trộm những tài sản trên để về tận dụng làm vật dụng trong gia đình, không có mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nhưng các bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của Công ty TNHH Xây dựng và công trình Hỏa Tiễn. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện. Xét cần phải có một mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về vai trò của các bị cáo: trong vụ án này bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo C cùng thực hiện hành vi phạm tội do vậy bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C là phù hợp.
Về nhân thân của bị cáo: các bị cáo thực hiện hai lần hành vi trộm cắp nên thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo xuất thân là nhân dân lao động, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội biết ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Người bị hại có đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo C có khoản thời gian phục vụ trong quân đội. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho các bị cáo và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.
Xét các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng án treo và giao về chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là thỏa đáng.
Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số tài sản bị mất và 02 xe cộ đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô BKS: 92N1-171.68, nhãn hiệu Yamaha – Sirius, màu sơn: Đỏ - đen do bị cáo Phạm Văn C đứng tên chủ sở hữu. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với ông Phạm Văn T và ông Đỗ Th đã nhận lại tài sản là hai xe cộ, khi bị cáo Thế và bị cáo C sử dụng hai xe cộ này để đi trộm cắp tài sản, ông T và ông Th không biết nên không đề cập xử lý.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thanh T, Phạm Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T, 18 ( Mười tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C, 12 ( Mười hai ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Đỗ Thanh T, Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Tam X, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là nơi cư trú của các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô BKS: 92N1-171.68, nhãn hiệu Yamaha – Sirius, màu sơn: Đỏ - đen do bị cáo Phạm Văn C đứng tên chủ sở hữu.
( Chiếc xe này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2018)
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Bị cáo Đỗ Thanh T, Phạm Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích án treo cho các bị cáo) Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
(ĐÃ KÝ)
Đinh Thị Huỳnh Lý
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Ngọc Trần Thị Long
Đinh Thị Huỳnh Lý
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội;
Tuyên bố bị cáo Lương Hải Dũng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02 tháng 10 năm 2017.
Về án phí: bị cáo Hà Văn Tiến phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Bùi Đình Dũng
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dũng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng từ ..04 đến 05 năm tù. Về tang vật tạm giữ:
Tại phiên Tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 03/01/2018, tại nhà ông Lương Ngọc Trước thuộc thôn Hòa An, xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Lương Hải Dũng đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của ông Lương Ngọc Trước.
Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy rằng: Methamphetamin là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục các chất ma túy bị pháp luật Nhà nước ta cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán. Tệ nạn ma túy là một trong những thảm họa đối với con người và cộng đồng xã hội, gây nhiều tác động tiêu cực đến đời sống, hủy hoại sức khỏe, phẩm giá của con người, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta đang tập trung mọi cách để ngăn chặn và đẩy lùi loại tệ nạn này. Bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ là người trưởng thành, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm và những hậu quả nghiêm trọng mà ma túy gây ra, tuy nhiên vì ham lợi và muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã bất chấp dẫn đến phạm tội và phạm tội nhiều lần. Hành vi đó của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng trật tự trị an trong địa phương. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khai nhận toàn bộ các lần phạm tội trước đó. Bị cáo có bà ngoại là bà Dương Thị Hạnh có công trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ được tặng huy chương, bằng khen. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là phù hợp.
Bị cáo Vũ không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về vật chứng:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE ( chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Vũ dùng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Tang vật không dùng vào việc phạm tội cần trả lại gồm: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Đối với 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp cần tiếp tục thu giữ lưu hồ sơ vụ án.
Số tiền bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ thu được từ việc mua bán trái phép chất ma túy gồm: bán cho Võ Thái Bình Dương 02 lần: lần 1 số tiền 300.000đồng, lần 02 số tiền 300.000đồng được quy đổi bằng hình thức card điện thoại trong đó có 01 card điện thoại trị giá 100.000đồng bị cáo Vũ chưa sử dụng, hiện đang lưu hồ sơ vụ án, do vậy 02 lần bán ma túy cho Võ Thái Bình Dương bị cáo Vũ đã thu lợi được 500.000đồng; Bán cho Tạ Bảo Quốc và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho Lê Văn Ry và Đinh Ngọc Sơn 01 lần số tiền 100.000 đồng; bán cho Trần Tấn Thịnh và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Tuấn Vũ 03 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Công Bằng 01 lần với số tiền 300.000 đồng; bán cho Nguyễn Tấn Quang 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Tổng cộng bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã thu lợi bất chính là 3.000.000đồng cần phải truy thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với Võ Thái Bình Dương, Bùi Văn Dương, Nguyễn Cường, Lê Tuấn Vũ, Nguyễn Tấn Quang, Đinh Ngọc Sơn, Tạ Quốc Bảo, Trần Tấn Thịnh và Lê Văn Ry có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính là thỏa đáng.
Đối với Lê Công Bằng, Công an huyện Núi Thành lập hồ sơ vi phạm và Tòa án nhân dân huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Đối với Nguyễn Công Thành là chủ nhà nghỉ Duy Ninh đã có hành vi thiếu trách nhiệm, để người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy tại khu vực mình quản lý là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện Núi Thành đã lập tờ trình đề nghị Chủ tịch UBND huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Công Thành là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên Tý ở Đà Nẵng bán ma túy đá cho Huỳnh Ngọc Vũ và 02 đối tượng đưa giúp ma túy đá cho Vũ vẫn chưa xác định được lai lịch nên không đủ cơ sở để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999;
Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ 04 ( Bốn ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, ngày 20/7/2017.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung công quỹ: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE (chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ.
- Trả lại cho: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- Tịch thu tiêu hủy 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Tiếp tục thu giữ 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp để lưu hồ sơ vụ án.
- Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ số tiền 3.000.000đồng.
* Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ phải chịu là: 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, bộ phận HS; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Long Nguyễn Thị Xuân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đinh Thị Huỳnh Lý Đinh Thị Huỳnh Lý THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Huỳnh Lý |