vanban.org

Bản án 20/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 23/01/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn P, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 14-11-2017 của Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 17-8-2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Phi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn P, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 14-11-2017 của Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS-PT
Ngày: 23-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm

Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Huyển - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2017/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Đặng Văn P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2017/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân Q.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Văn P sinh ngày 06 tháng 11 năm 1994 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn Q và bà Trần Thị H; Có vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26-02-2014, bị Tòa án nhân dân Đ, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-8-2017 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 08-6-2017, Đặng Văn P đi bộ đến quán Karaoke T do anh Nguyễn Hồ Tiến Đ làm chủ để trộm cắp tài sản. P trèo lên cây sát ngôi nhà để lên tầng 2 và đột nhập vào bên trong ngôi nhà lấy một số tài sản gồm: 01 máy ảnh hiệu Nikon D90 màu đen, 01 máy quay phim hiệu Panasonic AG-AC30 màu đen, 01 máy quay phim hiệu Sony HVR-Z1U màu đen, 01 đèn chiếu trợ sáng dùng cho máy quay phim màu đen và 01 pin máy quay phim hiệu Sony NP-F970 màu đen, được đựng trong 03 chiếc túi xách khác nhau. Sau đó, P leo ra ngoài bằng đường cũ để tẩu thoát, rồi mang toàn bộ số tài sản trộm cắp được đem về nhà cất giấu.

Sáng ngày 13-8-2018 Đặng Văn P mang chiếc máy ảnh hiệu Nikon D90 màu đen, cùng 01 túi xách đựng máy ảnh hiệu Canon màu đen đến bán cho chị Trần Thị Kim Phương được số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này P đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 17-8-2017 P mang chiếc máy quay phim hiệu Panasonic AG-AC30 màu đen; 01 đèn chiếu trợ sáng dùng cho máy quay phim màu đen, 01 pin máy quay phim hiệu Sony NP-F970 màu đen, cùng 01 túi xách đựng máy quay phim hiệu MMC màu đỏ đen đến bán cho anh Phạm Tuấn V được số tiền 12.000.000 đồng. Số tiền này P đã nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q.

Số tài sản còn lại gồm 01 máy quay phim hiệu Sony HVR-Z1U màu đen và 01 túi xách đựng máy quay phim màu đen P cất giấu tại nhà.

Tại bản kết luận định giá số 45/KL-HĐĐGTTTHS ngày 24-8-2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận:

- 01 máy ảnh hiệu Nikon D90, trị giá: 5.000.000 đồng;

- 01 máy quay phim hiệu Sony HVR-Z1U, trị giá 7.000.000 đồng;

- 01 máy quay phim hiệu Panasonic AG-AC30, trị giá 28.000.000 đồng;

- 01 pin máy quay phim hiệu Sony NP-F970, trị giá: 600.000 đồng;

- 01 đèn chiếu trợ sáng dùng cho máy quay phim, trị giá: 300.000 đồng;

- 01 túi xách đựng máy ảnh hiệu Canon, trị giá: 200.000 đồng;

- 01 túi xách đựng máy quay phim hiệu MMC, trị giá: 300.000 đồng.

- 01 túi xách đựng máy quay phim màu đen, trị giá: 300.000 đồng.

Tổng cộng là 41.700.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2017/HSST ngày 14-112017, Toà án nhân dân huyện Q quyết định:

* Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17-8-2017.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28-11-2017, bị cáo Đặng Văn P có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn P nằm trong hạn luật định. Về nội dung: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 14-11-2017 của Toà án nhân dân huyện Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi của mình: Khoảng 04 giờ ngày 08-6-2017, bị cáo Đặng Văn P đi đến quán Karaoke T lén lút thực hiện trộm cắp một số tài sản gồm: 01 máy ảnh, 02 máy quay phim, 01 đèn chiếu trợ sáng dùng cho máy quay phim và 01 pin máy quay phim, được đựng trong 03 chiếc túi xách khác nhau. Tổng giá trị tài sản là 41.700.000 đồng. Vì vậy, Toà án nhân dân huyện Q xét xử bị cáo Đặng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Đặng Văn P xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, 01 lần bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và phấn đấu trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp, không nặng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Đặng Văn P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn P, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 14-11-2017 của Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 17-8-2017.

2. Bị cáo Đặng Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ