vanban.org

Bản án 20/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai về hình phạt đối với các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H và Lý Văn Q như sau:

Xử phạt bị cáo Lý Văn H (tên gọi khác Lý Văn B) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo. Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn A cùng đồng phạm phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai về hình phạt đối với các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H và Lý Văn Q như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS-PT
Ngày 22/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vân

Các Thẩm phán: Ông Phùng Lâm Hồng và ông Trương Quyết Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 22/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2018/TLPT-HS ngày 28 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Bàn Văn A cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Bàn Văn A, Lý Văn H, Lý Văn Q và người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai.

Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

1. Bàn Văn A, sinh ngày 20/11/1991, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Bàn Văn D và bà Lý Thị H. Bị cáo có vợ là Lý Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2017. Hiện tạm giam tại Trại tạm Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Lý Văn H (tên gọi khác Lý Văn B), sinh ngày 08/4/1996 tại huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lý Văn T và bà H Thị N. Bị cáo có vợ là Lý Thị M và có 01 con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2017. Hiện tạm giam tại Trại tạm Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.

3. Lý Văn Q, sinh ngày 15/5/1998, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lý Văn C và bà Trướng Thị Đ. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2017. Hiện tạm giam tại Trại tạm Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.

Bị cáo không có kháng cáo, bị kháng cáo:

Vi Văn Đ - Sinh ngày 01/4/1999, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vi Văn H và bà H Thị C. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2017. Hiện tạm giam tại Trại tạm Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.

- Người bị hại: Anh Bùi Việt H, sinh năm 1993 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Bùi Văn L, sinh năm 1971.

Nơi cư trú: Xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

2. Bà H Thị H, sinh năm 1973.

Nơi ĐKNKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Chỗ ở hiện tại: Phòng 2901 sảnh P, trung tâm Mi, phường N, thành phố Hà Nội - Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn L: Bà H Thị H.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại:

1 - Ông L Y, sinh năm 1972.

2 - Ông Nhâm Mạnh H, sinh năm 1975.

Đều là luật sư - Công ty luật TNHH Luật G

Địa chỉ: Tầng 3-4, tòa nhà 44 Nguyễn Công Hoan, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội - Có mặt.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1 - Bà Lý Thị H, sinh năm 1969.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2 - Bà H Thị C, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

3 - Bà H Thị N, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, Lào Cai - Có mặt.

4 – Bà Trướng Thị Đ, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, Lào Cai- Có mặt.

- Những người làm chứng:

1 - Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

2- Chị H Thị K, sinh ngày 19/8/2002.

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của chị H Thị K: Ông H Văn D, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

3- Chị Bàn Thị T, sinh ngày 30/10/2001.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

Người giám hộ của chị Bàn Thị T: Ông H Văn D, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

4 - Anh Đỗ Bá H, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

5 - Anh Lê Văn L, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Bản L 3, xã B, huyện B, Lào Cai - Vắng mặt.

6 - Anh Trần Văn H, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, huyện V, Lào Cai - Vắng mặt.

7 - Chị Lý Thị P, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai- Vắng mặt.

8 - Anh Triệu Văn Đ, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

9 - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964.

Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, huyện V, Lào Cai - Vắng mặt.

10 - Anh Trần Trung H, sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, huyện V, Lào Cai - Vắng mặt.

11 - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

12 - Anh Phan Phi L, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Số nhà 223 đường L, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai-Vắng mặt.

13 - Ông Nguyễn Trọng B, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, huyện V, Lào Cai - Vắng mặt.

14 - Ông Trần Văn M, sinh năm 1961.

Nơi cư trú: Thôn T 2, xã T, huyện V, Lào Cai - Vắng mặt.

Người giám định: Ông Đỗ Thành T - Giám định viên Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lào Cai . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23/11/2017, Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q cùng với H Thị Khuyên, Lý Thị P, Nguyễn Văn T, Trần Trung H, Triệu Văn Đ, Đặng Văn Đ1, Trần Văn H, Bàn Thị T, cùng nhau đem theo 02 con gà mổ sẵn, 01 con dao, 01 cái kéo, bát con và rượu ra khu vực bờ kè sông Hồng, thuộc thôn T 2, xã T, huyện V ngồi nướng gà ăn và uống rượu. Đến khoảng 17 giờ thì Trần Trung H, Nguyễn Văn T, Bàn Thị T đi về trước, những người còn lại vẫn ngồi ăn uống nói chuyện. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Việt H điều khiển xe mô tô chở Phan Phi L đến gặp nhóm của Bàn Văn A để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến cách khoảng 07m, H nhẩy xuống xe đi bộ về phía nhóm của Bàn Văn A nói “thằng nào to mồm nhất ở đây”, Bàn Văn A liền đứng dậy đi về phía H dùng tay phải khoác qua vai phải H và mời H vào uống rượu cùng. H không nói gì và tiếp tục tiến về phía những người còn lại nói “thằng nào to mồm nhất ở đây” liên tiếp khoảng 2, 3 lần. Lúc này Lý Văn H đứng dậy nói “Tao”. Ngay lập tức H dùng tay phải rút từ trong áo khoác đang mặc ra 01 con dao tay dài 35cm, loại một lưỡi sắc, chuôi bằng gỗ lao về phía Lý Văn H, thấy vậy những người đang ngồi đứng dậy bỏ chạy về nhiều hướng khác nhau. H tiếp tục đuổi theo hướng của Lý Văn H, nhưng do Bàn Văn A vòng tay phải qua sườn phải giữ H lại nên không đuổi được. Khi bị A ôm giữ từ phía sau, H giẫy mạnh người để thoát ra đồng thời vung dao lên và hướng về phía sau thì trúng vào đầu của Bàn Văn A, rồi tiếp tục chạy về phía trước. Bàn Văn A đuổi theo phía sau H và nói “H ơi, mày chém chúng đầu tao chẩy máu rồi”. H nghe vậy nên quay người lại nhìn về phía Bàn Văn A. Bàn Văn A lao tới, dùng hai tay đẩy mạnh vào người làm H ngã ngửa ra mặt đất, rồi ngồi lên bụng dùng chân trái kẹp tay phải đang cầm dao, đồng thời dùng hai tay đấm liên tiếp nhiều phát vào vùng mặt, đầu của H. Nhìn thấy Vi Văn Đ cầm theo con dao chạy đến phía sau nên An giằng lấy dao của H đưa cho Vi Văn Đ. H nhổm dậy rê người lùi về phía sau, Bàn Văn A tiếp tục di chuyển theo ngồi lên bụng H, dùng hai tay tiếp tục đấm vào vùng mặt của H. Lúc này Bàn Văn A quan sát thấy Phan Phi L đang bị Hùng, Đ ôm giữ đè xuống. Lý Văn H và Lý Văn Q đang đánh Long nên Bàn Văn A chạy đến ôm lấy Long và nói đây là bạn của An không ai được đánh, Long bỏ chạy về phía quán cơm M. Khi An chạy đi can mọi người không được đánh Long thì H rê người về phía lan can bờ kè, Vi Văn Đ đứng gần đó cầm con dao Bàn Văn A đưa cho, tiến đến bên phải của H cách khoảng 20cm, dùng phần bản dao đập mạnh 01 phát vào vùng mông của H (H đang nằm tư thế nghiêng sang trái), H xoay người nằm ngửa ra mặt đất. Vi Văn Đ tiếp tục dùng chân phải đá liên tiếp 03 phát vào sườn trái của H, sau đó dùng chân trái đạp liên tiếp 03 phát vào đầu, mặt, chán của H rồi lùi lại phía sau. Lúc này Lý Văn H chạy đến dùng tay phải giật con dao mà Vi Văn Đ đang cầm, vòng lên phía trên bên phải cách đầu H khoảng 40cm, đập bản dao vào phần thái dương bên phải của H. Lý Văn H tiếp tục dơ dao lên cao để đập tiếp, thì phần lưỡi dao rơi ra khỏi chuôi dao trúng vào phần trán của H rồi rơi xuống đất. Lý Văn H vứt phần chuôi dao xuống đất, sau đó dùng chân phải đá liên tiếp 3, 4 phát vào thái dương trái của H. Lý Văn Q chạy đến phía bên phải của H, ngồi xổm quỳ 01 chân xuống đất, dùng tay phải đấm 01 phát vào gò má bên trái của H, rồi đứng dậy dùng chân phải đá 01 phát vào bắp chân phải và 03 phát vào vùng sườn phải của H. Lý Văn Q tiếp tục tiến lên ngang với vai phải của H dùng chân trái đá liên tiếp 02 phát vào vùng đầu và thái dương bên phải của H. H tiếp tục đẩy rê người về phía lan can bờ kè, phần đầu vuông góc và cách bờ kè khoảng 20cm thì Bàn Văn A chạy tới ngồi lên bụng H, dùng hai tay túm tóc hai bên thái dương, nhấc đầu của H lên trên cách gờ bê tông khoảng 08cm đập liên tiếp 3, 4 phát phần đầu phía sau của H vào gờ bê tông chân lan can bờ kè. Vừa đập Bàn Văn A vừa hỏi H “Tao không làm gì mày, sao mày cứ đòi giết tao”. H nói “Tao không giết được mày, thì mày đừng giết tao”. Do chảy máu nhiều và bị choáng nên Bàn Văn A vịn tay vào lan can bờ kè đứng dậy đồng thời dùng chân phải đá 01 phát vào sườn trái của H và nói “Từ nay mày đừng sang đây bắt nạt Mán nữa”. Lúc này bà Nguyễn Thị N, trú tại xã T, huyện V), là chủ quán cơm M chạy đến can ngăn và bảo Vi Văn Đ đưa con dao cho mình. Bà Nới cầm con dao Vi Văn Đ đưa cho rồi vứt xuống phía sông Hồng. Sau đó Bàn Văn A được Vi Văn Đ, Lý Văn Q đưa đi khâu vết thương. Bùi Việt H được đưa đi cấp cứu tại phòng khám xã T, sau đó được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai. Do vết thương quá nặng, ngày 26/11/2017 Bùi Việt H bị tử vong. Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 28/11/2017 Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai để đầu thú. Ngày 02/12/2017 Lý Văn Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để đầu thú.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tóm tắt ở trên.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H và Lý Văn Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ khoản 3 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Bàn Văn A 09 (chín) năm tù.

Căn cứ khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Lý Văn H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; Vi Văn Đ 08 (tám) năm tù; Lý Văn Q 08 (tám) năm tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03/9/2018 các bị cáo Bàn Văn A, Lý Văn H, Lý Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04/9/2018, người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Việt H là bà H Thị H kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử các bị cáo về tội “Giết người”.

Ngày 11/9/2018 các bị cáo Bàn Văn A, Lý Văn Q có đơn xin rút đơn kháng cáo. Ngày 04/10/2018 bị cáo Lý Văn H có đơn xin rút đơn kháng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bà H Thị H là đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Việt H giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX phúc thẩm xét xử các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q về tội “Giết người”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai để điều tra xét xử lại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị HĐXX: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai để điều tra xét xử các bị cáo về tội “Giết người”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q đều khai nhận do bực tức với người bị hại Bùi Việt H gây sự với các bị cáo trước nên các bị cáo đánh Bùi Việt H chỉ nhằm mục đích gây thương tích chứ không nhằm mục đích giết Bùi Việt H. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, tại khu vực bờ kè sông Hồng, thuộc thôn T 2, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai. Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q đã có hành vi dùng bản dao đập vào phần thái dương bên phải và vùng mông của Bùi Việt H, đồng thời dùng tay, chân đánh, đá chủ yếu vào vùng đầu của Bùi Việt H, hậu quả đến ngày 26/11/2017 Bùi Việt H tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 108/2017/GĐTT-TTPY ngày 6/12/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai kết luận: Nguyên nhân chết của Bùi Việt H là: Ngừng tuần hoàn - hô hấp do vỡ xương nền sọ, chảy máu não lan tỏa sau chấn thương sọ não kín.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai cũng như người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Việt H và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Bùi Việt H nhận định và cho rằng các bị cáo chủ động và tấn công bị hại H một cách quyết liệt, liên tục ngay cả khi bị hại không còn sức chống đỡ, các bị cáo vẫn cùng nhau dùng tay, chân, đấm, đá đạp vào vùng đầu và mặt nạn nhân, là vùng trọng yếu trên cơ thể con người. Bị cáo Bàn Văn A ngồi lên bụng kéo và nhấc đầu nạn nhân lên gờ kè bê tông, dùng hai tay nắm tóc hai bên thái dương liên tiếp đập xuống gờ bờ kè cho đến khi Trần Văn H đứng gần đó nói “H chết rồi” và được sự can ngăn của chị H Thị Khuyên và chị Lý Thị P các bị cáo mới dừng lại. Vì vậy hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng trước đó bị cáo Bàn Văn A và bị hại Bùi Việt H có mâu thuẫn với nhau nên các bị cáo có chủ ý trả thù người bị hại.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định: Các bị cáo đánh bị hại Bùi Việt H chỉ nhằm mục đích gây thương tích, chứ không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của người bị hại Bùi Việt H. Thể hiện ở việc các bị cáo có nhiều điều kiện để thực hiện hành vi đó, như khi giằng được dao của bị hại H, bị cáo Bàn Văn A đã không dùng dao đó để chém H mà đưa cho bị cáo Vi Văn Đ, mặc dù trước đó bị cáo An đã bị H chém. Bị cáo Đạt trên tay cầm 02 con dao, 01 con do bị cáo An đưa và 01 con dao các bị cáo dùng để chặt thịt gà trước đó, nhưng bị cáo cũng chỉ dùng bản dao để đập vào mông của H. Khi bị cáo Lý Văn H lấy được dao từ bị cáo Vi Văn Đ cũng chỉ dùng bản dao đập vào vùng thái dương bên phải của bị hại H. Mặc dù các bị cáo đánh bị hại H chủ yếu tập chung vào vùng đầu, là vùng trọng yếu trên cơ thể con người như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại đã phân tích, xong các bị cáo chỉ dùng tay, chân, đấm, đá chứ không hề có ý Tc tước đoạt tính mạng của bị hại H, việc bị hại chết là ngoài ý muốn của các bị cáo, được thể hiện ở việc sau khi đánh và đập đầu người bị hại H vào gờ bờ kè xong bị cáo Bàn Văn A còn nói: “Từ nay mày đừng sang đây bắt nạt Mán nữa”. Đối với lời khai của Trần Văn H sau đó Hùng đã thay đổi lời khai, khi nghe thấy H xin, An đã dừng tay không đánh H nữa. Sau đó bị hại H được đưa đi cấp cứu và đến ngày 26/11/2017 tức là 3 ngày sau thì tử vong. Mặt khác tại phiên tòa sơ thẩm giám định viên đã khẳng định việc bị cáo An đập đầu người bị hại xuống nền bê tông qua khám ngoài không có dấu vết tổn thương, phẫu thuật khám bên trong không có thương tích, và đây cũng không phải nguyên nhân gây ra cái chết của người bị hại, mà người bị hại chết là do tác động hỗn hợp dẫn đến tổn thương hỗn hợp vỡ xương nền xọ, chảy máu não lan tỏa sau chấn thương sọ não. Người làm chứng là H Thị Khuyên, Lý Thị P có can ngăn các bị cáo nhưng cũng khẳng định các bị cáo chỉ dùng tay, chân đánh người bị hại H. Bà H Thị Nới, người trực tiếp chứng kiến sự việc cũng khẳng định tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo tự dừng lại không đánh H nữa chứ bà Nới không xin hay yêu cầu gì để các bị cáo dừng lại.

Đối với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng trước đó bị cáo Bàn Văn A và bị hại Bùi Việt H có mâu thuẫn với nhau nên các bị cáo có chủ ý trả thù người bị hại. Xét thấy không có cơ sở khẳng định bị cáo Bàn Văn A và bị hại Bùi Việt H có mâu thuẫn từ trước. Thể hiện ở việc lời khai của tất cả các nhân chứng có mặt cũng như lời khai của các bị cáo đều khẳng định khi Bùi Việt H đến thì chính bị cáo Bàn Văn A là người đứng lên mời H ngồi xuống uống rượu cùng, khi đánh bị hại H bị cáo An còn nói: “Tao không làm gì mày, sao mày cứ đòi giết tao”. H nói “Tao không giết được mày, thì mày đừng giết tao”.

Từ những phân tích trên xác định không có căn cứ chứng minh các bị cáo phạm tội “Giết người”.

Đối với các thương tích trên đầu và mặt nạn nhân, tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận do các bị cáo gây nên vì vậy không cần điều tra lại để làm rõ.

Hành vi của các bị cáo Bàn Văn A, Lý Văn H, Lý Văn Q và Vi Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 3 điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã kết tội các bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Như đã phân tích ở phần [2]. Các bị cáo đánh bị hại Bùi Việt H chỉ nhằm mục đích gây thương tích chứ không nhằm tước đoạt tính mạng của người bị hại, việc người bị hại chết là ngoài ý muốn của các bị cáo nên kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xét xử các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H, Lý Văn Q về tội “Giết người” là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Về việc rút kháng cáo của các bị cáo Bàn Văn A, Lý Văn Q và Lý Văn H. Xét thấy việc rút kháng cáo của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên chấp nhận.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai về hình phạt đối với các bị cáo Bàn Văn A, Vi Văn Đ, Lý Văn H và Lý Văn Q như sau:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Bàn Văn A 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999:

Xử phạt bị cáo Lý Văn H (tên gọi khác Lý Văn B) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lý Văn Q 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2017, là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.

2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ