vanban.org

Bản án 20/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lữ Văn N.

Anh Lữ Văn N được ly hôn với chị Quãng Thị Thu L. [2] Về nuôi con chung: Anh Lữ Văn N trực tiếp nuôi con chung là cháu Lữ Hoài P, sinh ngày 26/01/2003 hiện đang sống chung với anh N, chị Quãng Thị Thu L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lữ Văn N không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lữ Văn N - Quãng Thị Thu L"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lữ Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 20/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 02 - 4 - 2018.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Truyền.

Bà Lê Thị Hồng Nhan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Chấm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2017/TLST - HNGĐ, ngày 20/11/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 23/02/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lữ Văn N, sinh năm 1982. (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Chị Quãng Thị Thu L, sinh năm 1983 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 20/11/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lữ Văn N trình bày: Anh và chị Quãng Thị Thu L kết hôn do quen biết, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/12/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cự cải nhau nên không còn hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Trong quá trình chung sống anh chị có một con chung tên Lữ Hoài P, sinh ngày 26/01/2003 hiện đang sống chung với anh N, khi ly hôn anh N xin nuôi con không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn chị Quãng Thị Thu L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh Lữ Văn N.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lữ Văn N, về con chung anh N trực tiếp nuôi cháu Lữ Hoài P, sinh ngày 26/01/2003 hiện đang sống chung với anh N, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N không có yêu cầu, về tài sản chung và nợ chung không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Lữ Văn N có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, chị Quãng Thị Thu L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N, chị L.

Về quan hệ hôn nhân giữa anh Lữ Văn N và chị Quãng Thị Thu L, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/12/2002. Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn theo anh N trình bày thì vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cự cải nhau và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Xét thấy hôn nhân của anh N, chị L đã tồn tại trong khoảng thời gian dài, đã có con chung, lẽ ra anh chị phải biết trân trọng tình cảm, giữ gìn gia đình hạnh phúc nhưng hoàn toàn ngược lại, chỉ vì những mâu thuẫn không đáng kể nhưng anh chị không thể cùng nhau xoa dịu, thông cảm lẫn nhau dẫn đến hậu quả là anh chị sống ly thân, thời gian sống ly thân anh chị cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho chị L đến Tòa án để tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân với anh N, mục đích để anh chị hàn gắn nhưng chị L không đến Tòa án để tham gia hòa giải, điều đó chứng tỏ chị L có ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm với anh N. Tại biên bản xác minh ngày 11/12/2017 thì ông Lữ Văn C là Trưởng ấp nơi anh N, Chị L sinh sống cũng xác định những nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị L như lời trình bày của anh N. Do đó có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm vợ chồng anh N, chị L là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của anh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống anh chị có một con chung tên Lữ Hoài P, sinh ngày 26/01/2003 hiện đang sống chung với anh N, khi ly hôn anh N xin nuôi con không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con, đối với chị L không có ý kiến hay yêu cầu gì về nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu P sống chung với anh N, tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 14/12/2017 cháu P có nguyện vọng sống chung với anh N. Do đó để bảo đảm sự ổn định trong cuộc sống và học tập của cháu P cần để cho anh N được tiếp tục nuôi con là phù hợp. Do anh N không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị L.

Về tài sản chung và nợ chung anh N trình bày không có, đối với chị L trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì về các vấn đề nêu trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định anh chị có tài sản chung và nợ chung không nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu giải quyết ở vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ nộp án phí: Anh Lữ Văn N phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lữ Văn N.

Anh Lữ Văn N được ly hôn với chị Quãng Thị Thu L.

[2] Về nuôi con chung: Anh Lữ Văn N trực tiếp nuôi con chung là cháu Lữ Hoài P, sinh ngày 26/01/2003 hiện đang sống chung với anh N, chị Quãng Thị Thu L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lữ Văn N không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ nộp án phí: Án phí ly hôn anh Lữ Văn N phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx ngày 20/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ