- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "H O Byă"
- Tòa quyết gì? 476 Bộ luật dân sự năm 2005.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và ý kiến phát biểu; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và ý kiến phát biểu; luật giám định
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/DS-ST Ngày: 02/7/2018 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
và ông Phạm Hồng Phú
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa:
- Kiểm sát viên.
Ngày 02/7/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2017/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2017, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-DS ngày 06/6/2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà H O Byă, sinh năm 1973
Địa chỉ: Buôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn L, thuộc văn phòng Luật sư T - Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk.
)
* Bị đơn: Bà H R Bkrông, sinh năm 1979 và bà H N Bkrông, sinh năm 1984
Cùng địa chỉ: Buôn K, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày như sau:
Do có sự quen biết với gia đình nguyên đơn nên ngày 29/4/2014 nguyên đơn có dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N, Chi nhánh huyện K - Đắk Lắk với số cho bà H R Bkrông và H N Bkrông vay lại. Thời hạn vay tại Ngân hàng là 01 năm kể từ ngày 29/4/2014 đến ngày 29/4/2015, với lãi suất là 12%/năm.
Sau khi Ngân hàng giải ngân cho nguyên đơn số tiền gốc là 30.000.000 đồng, nguyên đơn đã trả cho Ngân hàng 94 ngày tiền lãi (kể từ ngày 29/4/2014 đến ngày 31/7/2014) tương ứng với số tiền 940.000 đồng. Sau đó nguyên đơn đã đưa cho bà H R Bkrông vay lại số tiền gốc là 23.000.000 đồng, cho H N Bkrông vay lại số tiền là 7.000.000 đồng tương ứng với lãi suất mà nguyên đơn vay Ngân hàng. Lúc này nguyên đơn cũng yêu cầu bà H R và H N đưa lại cho nguyên đơn số tiền lãi 940.000 đồng mà nguyên đơn đã trả trước đó cho N
nên nguyên đơn cũng đồng ý.
Khi nguyên đơn đưa tiền cho bà H R Bkrông và H N Bkrông vay lại, hai bên không lập giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận miệng với nhau là đến ngày 29/4/2015 bà H R Bkrông và H N Bkrông phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền gốc và lãi mà nguyên đơn đã vay giùm cho bị đơn.
Đến hạn trả nợ
29/4/2015) bà H R và H N không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng như đã thỏa thuận trước đó với nguyên đơn, do đó nguyên đơn phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng
14/7/2016 là
.
Vì nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bà H R và bà H N nhưng không có kết quả nên nguyên đơn đã nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Sau đó nguyên đơn với bà H R và bà H N đã lập bản cam kết thỏa thuận đề ngày 13/5/2016 trong đó thể hiện nội dung bà H R và bà H N đã vay của nguyên đơn số tiền gốc là 30.000.000 đồng, hẹn đến hết ngày 31/5/2016, bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và lãi mà nguyên đơn đã trả cho Ngân hàng. Nguyên đơn, bà H R và bà H N có ký xác nhận bên dưới. Đến ngày 31/5/2016, bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ như đã cam kết. Ngày 14/7/2016,
lập “Giấy xác nhận trả nợ ngân hàng”, trong đó thể hiện nội dung nguyên đơn trả nợ Ngân hàng thay cho bà H R và bà H N với số tiền là “39.380.000 đồng”. Nguyên đơn, bà H R có ký xác nhận bên dưới. Bà H N có đi cùng nhưng vì không để ý nên nguyên đơn cũng không biết là bà H N không ký vào giấy xác nhận này.
Nguyên đơn xác nhận ngày 17/5/2018 bà H N Bkrông đã trả cho nguyên đơn 7.000.000 đồng tiền gốc. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà H R Bkrông trả lại số tiền gốc đã vay là 23.000.000 đồng và số tiền lãi 7.191.000đồng. Buộc bà H N Bkrông phải trả 2.189.000đồng tiền lãi.
.
* Quá trình tham gia tố tụng bị đơn H N Bkrông khai nhƣ sau:
Bà xác định có nợ của nguyên đơn số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm vay. Bị đơn và nguyên đơn bà H O Byă cũng đã
gày 30/4/2018, bà sẽ có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 10.360.000 đồng (trong đó: tiền gốc là 7.000.000 đồng; tiền lãi tính từ ngày vay 29/4/2014 đến ngày trả nợ 30/4/2018 với lãi suất là 12%/năm là 3.360.000 đồng).
Đối với chi phí giám định chữ ký, chữ viết, bà sẽ có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ½
.
* Đối với bị đơn là H R Bkrông được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt, tại phiên tòa lần hai vắng mặt không có lý do, không có yêu cầu hay ý kiến phản hồi gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không thể tiến hành lấy lời khai, đối chất và hòa giải được. Xác minh tại chính quyền địa phương được biết bà H R Bkrông đăng ký hộ khẩu thường trú, sống và làm việc tại địa phương buôn K, xã B, huyện K.
* Luật sư Nguyễn Văn L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu tại phiên tòa có nội dung như sau:
Do có sự quen biết nên ngày 29/4/2014 bà H O Byă đã dùng tài sản thế chấp vay của Ngân hàng N
huyện K số tiền 30.000.000
cho bà H R Bkrông vay lại số tiền 23.000.000 đồng và bà H N Bkrông vay lại số tiền 7.000.000 đồng, thời hạn vay là một năm. Đến hạn trả nợ cho Ngân hàng nhưng
bị đơn không thực hiện như cam kết nên nguyên đơn phải trả cả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng tổng cộng là 39.380.000 đồng.
H N Bkrông
. Nay đề nghị HĐXX buộc bà H R Bkrông phải trả lại cho nguyên đơn 23.000.000 đồng tiền gốc và 7.191.000 đồng tiền lãi, buộc bà H N Bkrông trả cho nguyên đơn 2.189.000 đồng tiền lãi.
Về lãi suất các bên không thỏa thuận là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thực tế bị thiệt hại, đề nghị HĐXX chấp nhận với lãi suất quá hạn của Ngân hàng nhà nước quy định tính từ ngày 14/5/2016 cho đến nay là là 24 tháng cụ thế:
Bà H R Bkrông phải trả thêm số tiền lãi là 30.191.000 đồng x 0.75% /tháng x 24 tháng = 5.434.380 đồng.
Bà H N Bkrông phải trả thêm số tiền lãi là 9.189.000 đồng x 0.75% /tháng x 24 tháng = 1.654.002 đồng.
.
,
.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu:
Thẩm quyền thụ lý vụ án: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" trên cơ sở bản cam kết thỏa thuận và giấy xác nhận nợ Ngân hàng để thụ lý vụ án là có căn cứ, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vấn đề thu thập chứng cứ:
đúng theo quy định tại Điều 97, 98 102 Bộ luật tố tụng dân sự.
chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (viết là HĐXX), Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn
N
Về quan điểm, đường lối xử lý đối với vụ án:
471, 47
200
.
n
N
.
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn liên quan đến giao dịch dân sự về vay tài sản, do đó đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại buôn K, xã B huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng:
Đối với bị đơn H R Bkrông đã được
cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng để giải quyết việc tranh chấp, không có ý kiến phản hồi hay yêu cầu phản tố gì
, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do
N Bkrông
vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn.
Về nội dung:
Theo “bản cam kết thỏa thuận” ngày 13/5/2016 (bút lục 30 ) và “giấy xác nhận
nợ ngân hàng” ngày 14/7/2016 (bút lục 31 và 32), các lời khai của nguyên đơn, bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX xác định: Ngày 29/4/2014 bà H O Byă vay của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K, Đắk Lắk số tiền gốc 30.000.000 đồng với lãi suất 12%/năm, thời hạn vay 12 tháng, sau đó cho bà H R Bkrông vay lại 23.000.000 đồng tiền gốc và bà H N Bkrông 7.000.000 đồng tiền gốc, các bị đơn có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng theo thời hạn vay
mà nguyên đơn vay của
bị đơn không
như đã cam kết nên nguyên đơn phải thanh toán cả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng
tổng số tiền là 39.380.000 đồng. Sau
39.380.000 đồng nhưng các bị đơn vẫn không thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi nêu trên là vi phạm sự thỏa thuận giữa hai bên, vi phạm
nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các điều 412, 471 và 474 Bộ luật dân sự năm 2005, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên nguyên đơn có quyền khởi kiện.
Đối với bị đơn bà H N Bkrông qua hòa giải thừa nhận có vay của nguyên đơn 7.000.000 đồng
như nguyên đơn trình bày và đồng ý trả
. Nguyên đơn đã thừa nhận ngày 17/5/2018 bà H N Bkrông đã trả đủ số tiền gốc
, số tiền lãi chưa trả khoản
. Do đó HĐXX
bị đơn H N Bkrông trả
7.000.000 đồng tiền
. Đối với số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là 2.189.000 đồng, căn cứ vào các chứng từ mà bà H O đã giao dịch tại Ngân hàng và mức lãi suất quy định hiện tại, HĐXX xét thấy có căn cứ nên cần chấp nhận. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi 2.189.000 đồng.
Đối với bị đơn bà H R Bkrông, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ để
, vắng mặt tại phiên tòa lần hai là thể hiện sự thiếu thiện chí trong việc thống nhất số tiền nợ vay, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ vào “bản cam kết thỏa thuận” ngày 13/5/2016 (bút lục 30) và “giấy xác nhận nợ ngân hàng” ngày 14/7/2016 (bút lục 31 và 33), Kết luật giám định số 23/PC54 ngày 05/02/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk. HĐXX xác định ngày 14/7/2016
bà H R Bkrông
nhưng
bị đơn không trả tiền gốc và lãi cho nguyên đơn là vi phạm
nghĩa vụ
n trả nợ
4, 412, 471 và 474 Bộ luật dân sự năm 2005 nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền gốc 23.000.000 đồng, tiền lãi 7.191.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với lãi suất quá hạn: 39.380.000
14/5/2016
. Theo nội dung “giấy xác nhận nợ ngân hàng” ngày 14/7/2016 thì hai bên
theo
H R Bkrông
18
. Đ
Bkrông
)
18
,
:
18 ng
= 5.208.000
03
= 1.159
2.189.000 đồng x
= 377.673
R Bkrông
30.191.
+ 5.208.000
= 35.399.000
, b
Bkrông
= 4.103.000
Đối với các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa HĐXX xét thấy có cơ sở và có căn cứ.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật là:
Bà H N Bkrông phải chịu 300.000 đồng. Bà H R Bkrông phải chịu 35.399.000
x 5% = 1.770.000 đồng.
.
Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu giám định của nguyên đơn và kết luận giám định là có căn cứ nên căn cứ Điều 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí giám định chữ ký là 5.760.000 đồng. Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng và đã chi ngày 08/3/2018, do đó buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí giám định 5.760.000 đồng, chia theo phần: Bà H N Bkrông và H R Bkrông mỗi người phải hoàn trả 2.880.000đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144; 147; 161; 162; 203, 217, 220; 227, 228, 235; 266; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
iều 4,
476 Bộ luật dân sự năm 2005.
Áp dụng
26, khoản 2 Điều 26
47 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H O Byă.
Buộc bà H N Bkrông phải trả cho bà H O Byă số
4.103.000
.
Buộc bà H R Bkrông phải trả cho bà H O Byă số tiền 35.399.000
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ
yêu cầu khởi kiện
7.000.000 đồng đối với bà H N Bkrông.
2. Về án phí:
Bà H N Bkrông phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà H R Bkrông phải chịu 1.770.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng khác: Bà H N Bkrông và H R Bkrông mỗi người phải hoàn trả 2.880.000 đồng tiền
giám định cho bà H O Byă.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư Kuin; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ) VĂN CÔNG CƢỜNG |