vanban.org

Bản án 20/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ Th B T.

Buộc bà V Th H trả cho chị Đ Th B T số tiền 28.600.000 đồng. Cách trả như sau: * Trả 5.800.000 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T và H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ Th B T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/DS-ST
Ngày: 26/01/2018
(V/v tranh chấp h p đ ng vay
tài sản và h p đ ng góp hụi)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phúc.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Trần Trọng Quang;

2. Ông Mai Tấn Lộc;

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Truyền – Kiểm sát viên

Vào ngày 26 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 381/2017/TLST – DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đ Th B T, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp A, xã LT, huyện CL, tỉnh TG (có mặt).

Bị đơn: V Th H, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp A, xã LT, huyện CL, tỉnh TG (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 20/11/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Đ Th B T trình bày:

Bà V Th H có vay tiền và tham gia chơi hụi do chị làm chủ thảo như sau:

* Dây hụi 300.000 đồng, khui ngày 06/8/2016 âm lịch, một tháng khui 01 lần, hụi có 26 phần, bà V Th H tham gia 02 phần.

+ Phần hụi thứ 01: Chị V Th H hốt hụi vào ngày 06/12/2016 al, đã nhận đủ tiền hốt hụi, sau đó có góp lại 10 lần hụi chết thì ngưng cho đến nay. Tính đến ngày xét xử còn thiếu lại 03 lần hụi chết chưa góp (tháng 10, 11, 12 năm 2017 al). Dây hụi này còn 8 lần khui hụi vào ngày 06 tháng 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8 năm 2018 âm lịch thì mãn hụi.

+ Phần hụi thứ 02: Chị V Th H hốt hụi vào ngày 06/02/2017 al, đã nhận đủ tiền hốt hụi, sau đó có góp lại 08 lần hụi chết thì ngưng cho đến nay. Tính đến ngày xét xử còn thiếu lại 03 lần hụi chết chưa góp (tháng 10, 11, 12 năm 2017 al). Dây hụi này còn 08 lần khui hụi vào ngày 06 tháng 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8 năm 2018 âm lịch thì mãn hụi.

Nay yêu cầu chị V Th H góp lại cho chị 06 lần hụi chết đã khui của 02 phần hụi là 1.800.000 đồng. Riêng 16 lần hụi chết chưa khui, cho chị V Th H góp lại tiền hụi chết theo kỳ khui hụi của dây hụi.

* Dây hụi 500.000 đồng, khui ngày 15/01/2017 âm lịch, một tháng khui 01 lần, hụi có 30 phần, bà V Th H tham gia 02 phần.

+ Phần hụi thứ 01: Chị V Th H hốt hụi vào ngày 15/03/2017 al, đã nhận đủ tiền hốt hụi, sau đó có góp lại 05 lần hụi chết thì ngưng cho đến nay. Tính đến ngày xét xử còn thiếu lại 04 lần hụi chết chưa góp (tháng 8, 9, 10, 11 năm 2017 al). Dây hụi này còn 18 lần khui hụi vào ngày 15/12/2017 âm lịch; Ngày 15 các tháng 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 năm 2019 âm lịch và ngày 15 các tháng 01, 02, 3, 4, 5 năm 2019 âm lịch thì mãn hụi.

+ Phần hụi thứ 02: Chị V Th H hốt hụi vào ngày 15/04/2017 al, đã nhận đủ tiền hốt hụi, sau đó có góp lại 04 lần hụi chết thì ngưng cho đến nay. Tính đến ngày xét xử còn thiếu lại 04 lần hụi chết chưa góp (tháng 8, 9, 10, 11 năm 2017 al). Dây hụi này còn 18 lần khui hụi vào ngày 15/12/2017 âm lịch; Ngày 15 các tháng 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 năm 2018 âm lịch và ngày 15 các tháng 01, 02, 3, 4, 5 năm 2019 âm lịch thì mãn hụi.

Nay yêu cầu chị V Th H góp lại cho chị 8 lần hụi chết đã khui của 02 phần hụi là 4.000.000 đồng. Riêng 36 lần hụi chết chưa khui, cho chị V Th H góp lại tiền hụi chết theo kỳ khui hụi của dây hụi.

- Ngày 02/12/2015 âm lịch cho bà V Th H vay 8.000.000 đồng. Ngày 02/01/2016 âm lịch cho bà V Th H vay 2.000.000 đồng và ngày 20/12/2016 âm lịch cho bà V Th H vay 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay chị xin rút lại yêu cầu khởi kiện đòi bà H 30.000.000 đồng tiền vay để hai bên tự thỏa thuận.

* Theo biên bản ghi lời khai ngày 05/01/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn V Th H trình bày:

Bà có tham gia chơi hụi và vay tiền như chị Đ Th B T trình bày. Bà thừa nhận còn thiếu lại số tiền góp hụi chết của 02 dây hụi như chị T trình trày là đúng. Nhưng hiện do hoàn cảnh khó khăn nên đối với các lần hụi chết đã đến hạn của 02 dây hụi chị xin trả dần mỗi tháng 400.000 đồng. Đối với các lần hụi chết chưa đến hạn của 02 dây hụi chị xin góp lại tiền hụi chết theo kỳ khui hụi, nhưng xin trả dần mỗi tháng 700.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng thủ tục tố tụng. Viện kiểm sát không có kiến nghị bổ sung thêm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản tiền vay và buộc bi đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị Đ Th B T khởi kiện yêu cầu bà V Th H trả số tiền vay và tiền góp hụi nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 và 479 của Bộ luật dân sự 2005.

Về yêu cầu các bên đương sự: Tại phiên Tòa chị Đ Th B T tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đòi bà V Th H trả 30.000.000 đồng tiền vay, đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi. Hội đồng xét xử nhận định:

Xét thấy việc tham gia góp hụi giữa chị Đ Th B T với bà V Th H có hợp đồng góp hụi, được hai bên thừa nhận, thể hiện ý chí của hai bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên được công nhận.

Tại phiên tòa chị Đ Th B T giữ nguyên yêu cầu bà V Th H trả lại 06 lần hụi chết đến hạn, 16 lần góp hụi chết chưa đến hạn của dây hụi 300.000 đồng và 08 lần hụi chết đến hạn, 36 lần góp hụi chết chưa đến hạn của dây hụi 500.000 đồng được bà V Th H thừa nhận nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét ý kiến của bàV Th H đồng ý trả 14 lần hụi chết đã đến hạn của 02 dây hụi là 5.800.000 đồng, xin trả mỗi tháng 400.000 đồng cho đến khi đủ số tiền còn nợ. Sau đó mới góp 52 lần hụi chết chưa đến hạn của 02 dây là 22.800.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 700.000 đồng cho đến khi đủ số tiền còn nợ nhưng không được chị Đ Th B T thừa nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Xét thấy bà V Th H tham gia chơi hụi do chị Đ Th B T làm chủ thảo, nhưng sau khi hốt hụi xong thì không thực hiện nghĩa vụ góp lại tiền hụi chết cho chủ thảo là vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị định Số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Hiện 02 dây hụi này chưa mãn, nên chị Đ Th B T yêu cầu bà V Th H thực hiện nghĩa vụ góp lại tiền hụi chết đã đến hạn và chưa đến hạn theo phương thức nêu trên là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Bà V Th H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 217, 218 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định Số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ Th B T.

1. Buộc bà V Th H trả cho chị Đ Th B T số tiền 28.600.000 đồng. Cách trả như sau:

* Trả 5.800.000 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật.

* Trả 600.000 đồng vào ngày 06 âm lịch của các tháng: 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8 năm 2018 âm lịch;

* Trả 1.000.000 đồng vào ngày 15 âm lịch của các tháng: 12 năm 2017 âm lịch; 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 năm 2018 âm lịch; 01, 02, 3, 4, 5 năm 2019 âm lịch.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Đ Th B T về việc đòi chị Hồng trả lại 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày chị Đ Th B T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí: Bà V Th H phải chịu 1.430.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại bà Đ Th B T 1.465.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 15028 ngày 27/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ