- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van M va dong pham - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn M và Lường Văn B phạm tội cướp gi t tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN L Bản án số: 20/2017/HSST Ngày: 21/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN L
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chung; ông Quàng Văn Tiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với các bị cáo sau đây:
1. Họ và tên: Lò Văn M, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh L; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Lò Văn Q (đã chết); còn bà: Cà Thị N; vợ: Sống chung như vợ chồng với Hà Thị N (hiện Nghĩa đã bỏ đi lấy chồng khác); bị cáo có: 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lường Văn B, sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh L; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 01/12; con ông: Lường Văn Y (đã chết); còn bà: Lường Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Người bị hại:
1. Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988. Trú tại: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh L. Có mặt.
2. Chị Trịnh Thị Hải L, sinh năm 1993. Trú tại: T 5, thị trấn S, huyện S, tỉnh L. Có mặt.
3. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1965. Trú tại: T 6, thị trấn S, huyện S, tỉnh L. Có mặt.
4. Chị Lương Thị H, sinh năm 1972. Trú tại: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh L. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị N (mẹ bị cáo Minh). Trú tại: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 20/5/2017 đến ngày 25/5/2017 các bị cáo Lò Văn M, Lường Văn B đã dùng xe mô tô áp sát những người đi xe mô tô trên đường, lợi dụng sơ hở thực hiện 04 vụ cướp gi t tài sản trên đường quốc lộ 4G, thuộc địa ph n hai xã C và K, huyện S. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 20/5/2017, Lò Văn M lấy xe mô tô c a gia đình đi đến nhà Lường Văn B r B đi gi t tài sản người đi đường. M chở B theo đường quốc lộ đến khu vực chợ C tìm kiếm. Đến khu vực bản H, xã C thì gặp chị Phạm Thị T đi xe mô tô ngược chiều, trên tay đang cầm một điện thoại. Khi chị T đi qua, M và B cho xe đu i theo áp sát vào xe chị T ph a bên tay trái. B ngồi sau xe dùng tay gi t được chiếc điện thoại. Biết được B gi t được chiếc điện thoại, M tăng ga cho xe máy lao nhanh đến khu vực bản M, xã C mới dừng xe lại để xem tài sản vừa gi t được. Đó là chiếc điện thoại Sam sung Ga la xy. M cầm chiếc điện thoại đến ch vắng tháo sim thì thấy trong ốp lưng c a điện thoại có 1.335.000 đồng tiền mặt, M không cho Bóng biết số tiền đó và ném sim điện thoại đi. Sau đó M chở B về nhà, gửi điện thoại cho người c u ruột tên là Lò Văn , rồi bỏ ra 300.000 đồng từ số tiền có trong điện thoại vừa cướp gi t được đi mua ma tuý về cả ba người M, B, sử dụng. Đến ngày 23/5/2017, M đến nhà lấy điện thoại đến quán anh Trần Văn C cầm cố lấy 400.000 đồng, M đưa tiền cho 300.000 đồng (trả nợ), còn 100.000 đồng M đi mua ma tuý về sử dụng. Chiều ngày 23/5/2017, M d n bạn tên là Cà Văn P đến quán anh C chuộc lại chiếc điện thoại với giá 450.000 đồng. Sau khi vụ án bị phát hiện chiếc điện thoại đã được cơ quan Điều tra thu giữ.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 22/5/2017, M và B lại dong xe đi tìm cướp gi t tài sản. Lần này B mang theo một cái liềm không cán, M kiếm miếng d quấn vào che biển số xe mô tô. Đến địa ph n bản T, xã C thì gặp chị Phạm Minh K chở chị Trịnh Thị Hải L. Thấy chị L ngồi sau đeo chiếc túi thì M cho xe áp sát, B dùng cái liềm ngoắc vào dây túi chị L gi t đứt, chị L kịp phát hiện cầm chặt chiếc túi, nhưng B v n gi t được, M tăng ga cho xe lao nhanh đến ch vắng mới dừng lại xem hàng thì thấy trong túi có 2.400.000 đồng tiền mặt, 01 pin sạc điện thoại dự phòng, 01 áo gió, 01 quyển s giấy viết. Sau khi tiêu pha và mua ma tuý sử dụng xong M đưa tiền cho B 1.000.000 đồng, M cầm 1.100.000 đồng cùng chiếc pin sạc và áo. Cái túi đeo vứt xuống Sông M. Ngày 24/5/2017, M bán chiếc pin sạc dự phòng cho Lường Văn D được 100.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 24/5/2017, M và B lại tiếp tục đi, lần này hai người lấy bùn trát vào biển số xe. B v n mang theo cái liềm hôm trước. Đến địa ph n bản K, xã C thấy chị Vũ Thị H đi trên chiếc xe mô tô đi ngược chiều, trên vai có đeo túi. M quay xe theo áp sát xe chị H, B dùng liềm ngoắc gi t đứt dây túi và gi t được cái túi, M rồ ga lao nhanh đến ch vắng. Kiểm tra trong túi có 160.000 đồng tiền mặt, 01 khẩu trang, 01 đôi găng tay màu đỏ, 01 khăn tay và 01 quyển s tay. M cầm tiền và khẩu trang; còn lại B ném hết xuống dòng Sông M. Bị hại Vũ Thị H khai trong túi có chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã cũ, giá mua là 4.600.000 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng 18 giờ ngày 25/5/2017 , M, B tiếp tục tìm cướp gi t tài sản. Lần này M tháo biển kiểm soát xe mô tô để ở nhà. B v n cầm theo cái liềm. Đến khu bãi cát thuộc địa ph n bản C, xã Chiềng C thì nhìn thấy chị Lương Thị H đi xe máy một mình, vai trái có đeo cái túi xách. M điều khiển xe mô tô áp sát vào xe c a chị H, B ngồi sau dùng liềm ngoắc cắt đứt dây túi và gi t được chiếc túi xách từ vai chị H. M tăng ga cho xe chạy đến ch vắng. Kiểm tra trong túi có 1.230.000 đồng tiền; 55.000 k p (tiền Lào), 01 điện thoại Nokia. M cầm 700.000 đồng tiền và 55.000 k p (tiền Lào). Chia cho B 400.000 đồng tiền và 01 điện thoại Nokia, đưa cho em gái B 50.000 đồng. Chiếc túi vứt xuống suối Hu i M.
Bản kết lu n định giá tài sản số 227/KL ngày 20/6/2017 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện S kết lu n:
1. 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy SMG 530H màu vàng gold, màn hình có nhiều vết vỡ vụn, đã qua sử dụng, giá trị 622.0000 đồng.
2. 01 điện thoại di động Nokia màu đen, đã qua sử dụng, giá trị 1.537.000 đồng.
3. 01 điện thoại di động Nokia màu đen, ốp lưng màu trắng, bị mất k nh màn hình và ph m, đã qua sử dụng, trị giá 468.000 đồng.
4. 01 chiếc túi xách có dây đeo (không có nhãn) màu đen, có 3 ngăn, đã qua sử dụng, giá trị 51.000 đồng.
5, 01 chiếc túi xách giả da màu đen, dây đeo b ng kim loại, đã qua sử dụng giá trị 63.000 đồng.
6. 01 túi xách giả da màu xanh – trắng k ngang nhãn hiệu Bershka, đã qua sử dụng, giá trị 1.800.000 đồng.
7. 01 pin sạc điện thoại di động dự phòng màu trắng bạc nhãn hiệu mi.com, đã qua sử dụng, giá trị 150.000 đồng.
8. 01 áo khoác gió màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 128.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho bị cáo và những người bị hại xác định lại hiện trường. Kết quả trùng khớp với lời khai c a các bên.
Những người bị hại đều yêu cầu trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 107/KLĐT-KT ngày 13/9/2017 c a Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Lò Văn M và Lường Văn B về tội Cướp gi t tài sản, theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ lu t hình sự.
Tại phiên toà Kiểm Sát viên v n giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ lu t hình sự. ử phạt bị cáo Lò Văn M từ 48 đến 52 tháng tù; bị cáo Lường Văn B từ 42 đến 48 tháng tù. Buộc các bị cáo bồi thường cho các bị hại. ét hoàn cảnh c a các bị cáo nên miễn hình phạt b sung cho bị cáo; v t chứng xử lý theo quy định c a pháp lu t.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại cùng các chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lò Văn M và Lường Văn B là những đối tượng sử dụng chất ma tuý, đã cùng nhau tìm cướp gi t tài sản. M lấy xe mô tô c a gia đình, trực tiếp điều khiển, cho B ngồi sau áp sát những phụ nữ đi xe mô tô tay cầm điện thoại hoặc vai đeo túi xách để nhanh chóng gi t lấy rồi cho xe mô tô tăng ga bỏ chạy; thực hiện trót lọt 04 vụ cướp gi t. T ng tài sản chiếm đoạt 4.819.000 đồng.
Các bị cáo thực hiện tội phạm có đồng phạm, thực hiện cướp gi t tài sản b ng phương tiện xe mô tô, có dụng cụ b ng v t kim kh (liềm) sắc nhọn; cướp gi t tài sản c a những người đang v n hành xe mô tô là trường hợp dùng th đoạn nguy hiểm. Tội phạm c a các bị cáo vừa xâm phạm tài sản, vừa gây nguy hiểm cho t nh mạng, sức kho c a người khác.
Hội đồng xét xử kết lu n: Các bị cáo Lò Văn M, Lường Văn B phạm tội Cướp gi t tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ lu t hình sự.
Các bị cáo tuy tu i đời còn tr , có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ lu t hình sự. Nhưng có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ lu t hình sự, có nhân thân xấu (sử dụng ma tuý). Do v y, cần có hình phạt tương xứng để giáo dục cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
Lò Văn M là người ch mưu và hưởng lợi phần hơn nên phải chịu hình phạt cao hơn so với đồng phạm.
Những đối tượng liên quan đến các bị cáo như: Đã bán ma tuý cho các bị cáo; mua bán v t các bị cáo phạm tội mà có; được các bị cáo chia tiền đều chưa đ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Điều tra chưa xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
êu cầu bồi thường c a những người bị hại là thực tế, nên cần buộc các bị cáo phải bồi thường theo giá trị những tài sản bị mất. Một số tài sản c a vụ án đã thu hồi được cần xem xét trả lại cho các bị hại.
Tang v t c a vụ án:
- 01 xe mô tô các bị cáo dùng gây án nhưng là tài sản c a bà Cà Thị N nên cần trả lại, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, nắp ốp lưng vàng trắng, 01 điện thoại Samsung màu vàng đồng, 01 chiếc áo gió màu đen đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 1.230.000 đồng, tiền Lào 55.000 k p là tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi cần trả lại cho ch sở hữu.
- 01 liềm sắt không có cán, 01 mũ lưỡi trai màu đen đã qua sử dụng và 01 khẩu trang đều là v t không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hu .
ét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình phạt b sung là (phạt tiền) đối với bị cáo.
Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp lu t.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn M và Lường Văn B phạm tội cướp gi t tài sản.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ lu t hình sự.
- ử phạt: Lò Văn M 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (26/5/2017).
- ử phạt: Lường Văn B 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (26/5/2017).
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ lu t hình sự, các Điều 584, 587 và khoản 1 Điều 589 Bộ lu t dân sự. Buộc các bị cáo bồi thường cho chị Phạm Thị T 1.335.000 đồng, chị Trịnh Thị Hải L 4.200.000 đồng, chị Vũ Thị H 1.760.000 đồng, chị Lương Thị H 51.000 đồng. T ng cộng 7.346.000 đồng, phần c a Lò Văn M 4.000.000 đồng, phần c a Lường Văn B 3.346.000 đồng.
3. Về v t chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 41, Điều 42 Bộ lu t hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ lu t tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hu : 01 (một) liềm sắt có k ch thước 2,5 x 20cm, phần lưỡi liềm cong không có cán, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang màu đỏ có chấm bi màu trắng, đã qua sử dụng.
- Trả lại 01 điện thoại di động Sam sung loại 530 màu vàng đồng, số IMEL: 35721306415702501 đã qua sử dụng cho chị Phạm Thị T; trả lại 01 áo gió màu đen đã qua sử dụng, 01 pin sạc dự phòng điện thoại di động màu trắng đã qua sử dụng cho chị Trịnh Thi Hải L; trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đen, nắp lưng màu trắng, số IMEL: 354317043824135, đã qua sử dụng, 55.000 k p (tiền Lào) và 1.230.000 đồng cho chị Lương Thị H; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiêu Hon da, BKS 88S1-7329, số khung: 521360, số máy: 6520910, xe đã qua sử dụng cho bà Cà Thị N.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh L).
4. Về án ph : Áp dụng Điều 99 Bộ lu t tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm m i bị cáo 200.000 đồng; án ph dân sự m i bị cáo 300.000 đồng. T ng cộng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Phần c a m i bị cáo 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Các bị cáo; những người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; -VKS huyện; -Thi hành án hình sự; -Thi hành án dân sự; -Bị cáo; -Bị hại; -Người có QL,NVLQ; -Sở tư pháp tỉnh; -Lưu HS; -Lưu VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lƣờng Văn Quyết |