- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại quả bi a; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 20/2017/HSST Ngày 21 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG UYÊN - CAO BẰNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đàm Văn Băng
+ Ông Bế Ích Nhuận.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thúy Quỳnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Quảng Uyên, Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên - Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2017/HSST ngày 22/8/2017 đối với bị cáo:
Lê Đình L, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1986, tại xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Trú tại: Xóm B, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nghề nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Đình A (đã chết) và bà Sầm Thị E, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là cả trong gia đình.
Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 27/3/2017 bị Công an huyện Quảng Uyên xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo đang tại ngoại tại xóm B, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Bị cáo có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: cho bị cáo bà Nguyễn Thị Th - Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).
Người bị hại: Đàm Đình N, sinh năm 1988; Trú tại: Phố HN, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Văn H, sinh năm 1968; Trú tại: Xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có lý do)
Những người làm chứng:
1. Triệu Văn B, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
2. Nông Văn C, sinh năm 1992; Trú tại: Xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
3. Bế Tuấn D, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm G, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
4. Sầm Văn Y, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm G, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
5. Sầm Đức M, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm G, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
(Những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do)
NHẬN THẤY
Bị cáo Lê Đình L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên - Cao Bằng truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trưa ngày 27/3/2017 Lê Đình L cùng Sầm Văn Y, Sầm Đức M, Ma Văn X ăn cơm và uống rượu ở thị trấn Q, sau đó cùng nhau vào quán hát CH thị trấn Q uống rượu, bia đến khoảng 19h thì cùng nhau đi xe mô tô lên xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng để chơi. Y điều khiển xe mô tô chở L đi trước, X điều khiển xe mô tô chở M đi theo sau. Khi đến quán bi-a của ông Triệu Văn H ở xóm Đ. L cùng Y, M đi vào quán bi-a thấy Đàm Đình N, cùng với Nông Văn C, Nông Văn T, và Bế Tuấn D, đang chơi bi-a. L vào xem bài đang úp trên bàn ở bên phải tính từ cửa đi vào (gần nơi N đứng), khi đang xem bài nghe N nói “chúng mày uống rượu say ở đâu về tính đập phá ở đây à”. Thấy N nói vậy L quay ra đầu bàn bi-a gần cửa ra vào cầm mỗi tay 01 quả bi-a ở trên bàn, tay phải cầm quả bi a số 14 màu trắng xanh ném trúng vào phần mắt trái của N, còn 01 quả bi-a số 15 cầm ở tay trái L để lại trên bàn. Hậu quả N bị chảy máu được mọi người đưa đi bệnh viện đa khoa huyện Q điều trị từ ngày 28/3/2017 và được chuyển ra bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng điều trị đến ngày 07/4/2017 ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/17/TgT ngày 18/4/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cao Bằng kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo phần mềm mi dưới mắt trái, kích thước nhỏ: 03%
- Giảm thị lực mắt trái sau chấn thương: 17%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19%.
Ngày 29/3/2017 Cơ quan công an thu giữ 01 quả bi-a số 14 màu trắng xanh và 01 quả bi-a số 15 để phục vụ quá trình điều tra.
Tại cơ quan điều tra Lê Đình L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, do đã uống rượu từ trước nên khi nghe thấy N nói “chúng mày say rượu ở đâu về tính làm loạn ở đây à” L đã nóng giận cầm quả bi a ném trúng vào phần mắt trái N gây thương tích. Sau khi xảy ra sự việc gia đình L đã đến thăm hỏi hỗ trợ tiền thuốc men cho bị hại N với số tiền 5.000.000,đ (Năm triệu đồng).
Ngày 17/7/2017 bị hại Đàm Đình N có bảng kê yêu cầu L bồi thường thiệt hại sức khỏe và các khoản chi phí với tổng số tiền là 92.527.000,đ.
Tại bản Cáo trạng số 19/KSĐT-TA ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên đã truy tố bị can Lê Đình L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Đình L thừa nhận: Ngày 27/3/2017 do đã uống nhiều rượu bia tại quán hát CH nên khi nghe Đàm Đình N nói "Chúng mày uống rượu say ở đâu tính về đập phá ở đây à?" nên không làm chủ được bản thân đã cầm quả bi a ném vào phần mắt trái của N. Sau khi sự việc xảy ra N đi điều trị tại bệnh viện L và gia đình có đến hỏi thăm và bồi thường số tiền là 5.000.000đ.
Bị hại Đàm Đình N khai: Tối ngày 27/3/2017 anh và C, T, D đang chơi bi a tại quán ông Triệu Văn H thì L từ đâu đến cầm quả bi a ném trúng vào mắt trái của anh. Nay anh yêu cầu bị cáo Lê Đình L bồi thường các khoản chi phí điều trị tại bệnh viện với tổng số tiền là 92.527.000đ (Chín mươi hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đình L từ 24 - 30 tháng tù
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo cho rằng: Hành động của bị cáo là bột phát do nóng giận không làm chủ được bản thân nên đã gây thương tích cho bị hại. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo có bố là người có công với nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị áp dụng Điều 47 cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đình L tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường vụ cố ý gây thương tích, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và phù hợp với lời khai của người bị hại. Cụ thể: Khoảng 21 giờ 30 phút tại quán bi a nhà ông Triệu Văn H ở xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, Lê Đình L có hành vi dùng 01 quả bi a ném trúng phần mắt trái của Đàm Đình N gây thương tích phải đi điều trị tại bệnh viện. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/2017/TgT ngày 18/4/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế Cao Bằng kết luận sức khỏe của Đàm Đình N "tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19%".
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã gây ra mất trật tự trị an tại địa phương, được thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe nên cần bị lên án và phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Hành vi dùng quả bi a ném gây thương tích của bị cáo đã thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên ở nông thôn, được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 12 thì ở nhà. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 27/3/2017 bị Công an huyện Quảng Uyên xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo. Tiền án: không;
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để răn đe và phòng ngừa chung và chấp nhận ý kiến đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về đề nghị của trợ giúp viên pháp lý, cho bị cáo lê Đình L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bố bị cáo được thưởng “Huy chương chiến sỹ vẻ vang” không thuộc trường hợp được nhà nước công nhận là người có công với nước nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự; Về đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 47 cho bị cáo vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo hưởng tình tiết này bởi lẽ, bị cáo vừa bị Công an huyện Quảng Uyên xử phạt vi phạm hành chính ngày 27/3/2017 bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân mà ngay buổi tối cùng ngày bị cáo lại có hành vi vi phạm pháp luật dùng quả bi a ném trúng góc mắt bị hại N tỷ lệ thương tổn là 19% với một lý do đơn giản khi bị cáo nghe anh N nói "Chúng mày uống rượu say ở đâu tính về đập phá ở đây à?"
Về trách nhiệm dân sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đình L đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại N, anh N đến Bệnh viện các tuyến khám từ ngày 28/3/2017, đến ngày 31/3/2017 vào nhập viện, ngày 07/4/2017 thì ra viện (11 ngày). Tại phiên tòa anh N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản gồm: Tiền xe đi lại, tiền viện phí, chi phí giám định, tiền ăn, tiền thuốc và tiền công cho người phục vụ với tổng số tiền là: là 92.527.000đ (Chín mươi hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng)
Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của anh N quá cao nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận những khoản sau:
1. Các khoản chi phí có hóa đơn:
- Ngày 07/4/2017, thanh toán ra viện:
600.000đ;
- Bồi dưỡng giám định tư pháp:
680.000đ;
- Hóa đơn bán lẻ mua thuốc (BL 37 - 41):
617.000đ;
- Phí giám định tư pháp:
535.000đ;
- Tiền thuốc ngày 29/3/2017:
311.000đ;
- Phiếu khám mắt Bệnh viện mắt TW số 27 (29/3/2017):
150.000đ;
- Hóa đơn bán hàng (31/3/2017):
592.000đ;
- Hóa đơn bán hàng (ngày 07/4/2017):
600.000,đ
- Hóa đơn bán hàng (12/4/2017)
101.000,đ;
- Phiếu khám mắt Bệnh viện mắt TW (10/4/2017):
300.000đ;
- Tiền thuốc ngày 10/4/2017:
230.000đ;
- Phiếu chỉ định Viện mắt TW ngày 10/4/2017:
211.000đ;
Cộng: 4. 927.000
2. Các khoản chi phí không có hóa đơn
Ngày 28/3 đến ngày 30/3/2017 bị hại chưa vào bệnh viện điều trị mà tự đi khám ở Viện mắt trung ương. Ngày 31/3/2017 bị hại nhập viện và ra viện ngày 07/4/2017. Nên tổng thời gian bị hại mất thu nhập là 11 ngày. Do đó các khoản chi khác được tính như sau:
- Tiền công mất thu nhập của người bị hại:
11 ngày x 200.000đ/ngày x 01 người = 2.200.000,đ
- Tiền công mất thu nhập của người phục vụ 01 người:
11 ngày x 200.000đ/ngày x 01 người = 2.200.000,đ
- Tiền bồi dưỡng sức khỏe:
3.000.000đ
Cộng: 7.400.000,đ
3. Tiền xe đi lại khám chữa bệnh (Tính cả chiều đi và chiều về):
- Tiền xe từ Bệnh viện Quảng Uyên đến Bệnh viện Cao Bằng:
2 người x 2 chiều x 30.000đ/chiều/người = 120.000đ
- Tiền xe Cao Bằng - Mỹ Đình:
2 người x 2 chiều x 170.000đ/chiều/người = 680.000đ
- Tiền xe từ Mỹ Đình - Viện mắt TW (đi tắc xi) :
2 chiều x 150.000đ/chiều
= 300.000đ
Cộng: 1.100.000,đ
4. Tái khám:
- Tiền xe từ Bệnh viện Quảng Uyên đến Bệnh viện Cao Bằng:
2 người x 2 chiều x 30.000đ/chiều/người = 120.000đ
- Tiền xe Cao Bằng - Mỹ Đình:
2 người x 2 chiều x 170.000đ/chiều/người = 680.000đ
- Tiền xe từ Mỹ Đình - Viện mắt TW (đi tắc xi) :
2 chiều x 150.000đ/chiều
= 300.000đ
Cộng: 1.100.000,đ
Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại N khoản tiền chi phí tái khám lại lần 2 tại viện mắt trung ương là 700.000đ.
Tổng các khoản buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại là: 15.227.000đ (Mười năm triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn đồng). Xác nhận bị cáo đã đưa trước cho gia định bị hại là 5.000.000đ.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho ông Triệu Văn H 02 quả bi a có số 14,15 bị cáo Lê Đình L sử dụng làm công cụ phạm tội.
Về án phí: Bị cáo Lê Đình L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Tuy nhiên gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo và bị cáo đã nộp đơn xin miễn án phí cho Tòa án, do đó bị cáo Lê Đình L được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình L 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Lê Đình L đi vào trại thụ hình.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
Bị cáo Lê Đình L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Đàm Đình N, trú tại Phố HN, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng số tiền là: 15.227.000đ. Xác nhận bị cáo đã đưa trước cho bị hại N 5.000.000,đ ,nay còn phải bồi thường tiếp là 10.227.000đ (Mười triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn đồng)
Kể từ ngày có quyết định thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng vụ án:
căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại quả bi a số 14 màu xanh trắng và quả bi a số 15 màu nâu trắng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn H trú tại xóm Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận, vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Uyên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 21 ngày 06/9/2017.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo được miễn toàn bộ án phí vì gia đình thuộc diện hộ nghèo.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 này kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Sở tư pháp; - VKS huyện; - Công an huyện; - Chi cục THA dân sự huyện; - UBND xã P; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu THA HS; - Lưu: Án văn; hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng |