vanban.org

Bản án 20/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre Tuyên án 09/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V (U) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V (U) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Vũ phạm tôi "Tàn trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V (U) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2017/HSST
Ngày: 09/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Nhi

2. Ông Võ Tùng Chinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lăng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Bửu – Kiểm sát viên.

Ngày 09/11/2017 tại hội trường Ủy ban nhân dân xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, công khai xét xử sơ thẩm vụ án án hình sự thụ lý số 19/2017/HSST ngày 20/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2017/QĐXX ngày 27/10/2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành V (U), sinh năm 1982, tại B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh B; Nơi cư trú: Số a, khu phố B, Phường c, thành phố m, tỉnh t; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Thành T, sinh năm 1939 và bà Lê Thị T (đã chết); Bị cáo có một người con tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2007. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Thành V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 18/4/2017, Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bến tre phát hiện anh Đoàn Văn P điều khiển xe mô tô BKS 63B9-678.40 chở Nguyễn Thành Vtrên Quốc lộ 60 thuộc ấp Tân Thông 1, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre theo hướng từ thành phố Bến Tre đi huyện Mỏ Cày Nam. Khi Công an yêu cầu kiểm tra túi nylong màu đen do Nguyễn Thành V mang theo thì V không chấp hành và cầm túi bỏ chạy. Khi bị bắt giữ, qua kiểm tra thì phát hiện bên trong túi nylong có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero chứa 01 gói nylong bên trong có chất rắn màu trắng dạng tinh thể, 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay sọc carô, 02 ống thủy tinh, 01 ống nhựa màu đen. Ngay khi phát hiện Nguyễn Thành V thừa nhận chất tinh thể trong túi nylong là ma túy đá của Vũ.

Vật chứng thu giữ:

- Thu trong túi nylong của Nguyễn Thành V: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero, 01 gói nylong không màu chứa chất rắn màu tráng dạng tinh thể, 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay sọc carô, 02 ống thủy tinh, 01 ống nhựa màu đen.

- Thu trên người Nguyễn Thành V: 01 điện thoại di động màu đen hiệu Masstel, 01 hột quẹt, tiền mặt 450.000 đồng.

Theo kết luận giám định số 1409/C54B ngày 20/4/2017 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylong không màu được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có trọng lượng 1,9782 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 19/KSĐT-TA ngày 20/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thành V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, bảo lưu toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và các tài sản khác: Cơ quan điều tra Công an huyện Mỏ Cày Bắc đã hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thành V 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay sọc carô, 01 điện thoại di động màu đen hiệu Masstel, tiền mặt 450.000 đồng là đúng quy định nên không xem xét.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 ống thủy tinh; 01 ống nhựa màu đen; 01 hột quẹt; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero và 01 goùi maãu vaät coøn laïi sau giaùm ñònh đựng trong phong bì được niêm phong số 1409/C54B ngày 20/4/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn T, chữ ký người chứng kiến Nguyễn Phước N.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỏ Cày Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành V khai nhận vào khoảng 14 giờ 45 phút giờ ngày 18/4/2017 bị cáo đi từ tỉnh Tiền Giang về huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có mang theo ma túy đá đã mua từ thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng, đến đoạn thuộc ấp Tân Thông 1, xã Thanh Tân thì bị Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre yêu cầu kiểm tra. Qua giám định thì bị cáo biết ma túy bị cáo mang theo có trọng lượng là 1,9782 gam loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo Nguyễn Thành V coù nhaân thaân toát, chöa coù tieàn aùn, tieàn söï, quaù trình ñieàu tra cuõng nhö taïi Toøa bò caùo ñaõ thaønh khẩn khai baùo; Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Bị cáo Nguyễn Thành V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhaän bieát ñöôïc haønh vi tàng trữ traùi pheùp chaát ma tuyù laø vi phaïm phaùp luaät nhöng vì muốn có ma túy thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu, mang theo ma túy với khối lượng 1,9782 gam để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm chính saùch ñoäc quyeàn quaûn lyù cuûa nhà nước veà chaát ma tuyù, gây ảnh hưởng traät töï, an toaøn xã hội nên phải xử lý nghiêm, cần caùch ly bò caùo V vôùi hoaït ñoäng bình thöôøng beân ngoaøi xã hội moät thôøi gian nhaát ñònh môùi ñuû söùc raên ñe, giaùo duïc bò caùo.

Tuy nhiên, khung hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bộ luật hình sự năm 1999 nặng hơn so với khung hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa 14 thì cần áp dụng hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo. Vì vậy, khi lượng hình, hình phạt áp dụng đối với bị cáo V được căn cứ theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng và các tài sản khác:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Mỏ Cày Bắc đã hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thành V 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay sọc carô, 01 điện thoại di động màu đen hiệu Masstel, tiền mặt 450.000 đồng. Xét thấy những tài sản này không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra công an huyện Mỏ Cày Bắc hoàn trả cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Đối với 02 ống thủy tinh; 01 ống nhựa màu đen; 01 hột quẹt là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu HERO bị cáo dùng chứa đựng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

01 goùi maãu vaät coøn laïi sau giaùm ñònh chứa đựng trong phong bì được niêm phong số 1409/C54B ngày 20/4/2017 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn T, chữ ký người chứng kiến Nguyễn Phước N là ma túy loại Methamphetamine nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bị cáo Nguyễn Thành V phải nộp án phí sơ thẩm là 200.000 đồng.

Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng là thỏa đáng và phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V (U) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V (U) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 ống thủy tinh; 01 ống nhựa màu đen; 01 hột quẹt; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu HERO; 01 phong bì cùng mẫu vật chứa đựng bên trong được niêm phong số 1409/C54B ngày 20/4/2017 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn T, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Phước N.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Thành V phải nộp là 200.000 đồng.

Án phí sung vào công quỹ nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ