vanban.org

Bản án 20/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai Tuyên án 29/03/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

p dụng khoản 1 Điều 135; Điều 20; Điều 33; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự. X phạt bị cáo Nguyễn Quang S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang S phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản " theo khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PRÔNG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2017/HSST
Ngày: 29/3/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG - TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m ph n - Ch t a ph n t a: Ông Đào Minh Chính.

C c H th m nh n d n:

1. Ông Trương Công Chự - Cán bộ hưu trí thị trấn Chư Prông, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

2. Ông Đặng Hồng Việt - Cán bộ hưu trí thị trấn Chư Prông, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Th

T a n h n n ph n t a: Bà Tống Thị Tám - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Đ d n V SND huy n Ch Prôn , tỉnh Gia Lai tham a ph n t a: Ông Vũ Bá Đông - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 3 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai x t x sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2017/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2017 đối v i bị cáo:

NGUYỄN QUANG S, sinh ngày 19/01/1991 tại EK, Đăk Lăk; trú tại: thôn P, xã I, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; dân tộc: tày; trình độ văn hóa: 02/12; con ông Nguyễn Văn X (chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1989 và 02 con, l n nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2011, hiện vợ con đang cư trú tại thôn P, xã I, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2016 đến nay, có m t.

* N

h :

- Anh Bùi Xuân K, sinh năm 1974; cư trú tại: tổ H, thị trấn P, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin x t x vắng m t.

- Anh Đàm Văn Kh, sinh năm 1976; cư trú tại: thôn TL 2, xã Ia S, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin x t x vắng m t.

* N

có quyền lợ , n hĩa vụ l n quan đến vụ n:

- Anh Nguyễn Xuân Th, sinh năm 1984; cú trú tại: thôn PH, xã Ia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng m t.

- Anh Vũ Văn Sg, sinh năm 1992; cư trú tại: thôn PP, xã Ia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng m t.

- Anh Đ ng Văn Thh, sinh năm 1995; cư trú tại: thôn PP, xã Ia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng m t.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Quang S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 25/3/2014 Đào Văn C trú tại thôn PH, xã Ia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cùng một số chủ máy g t tại địa bàn xã Ia và Ia Pi ngồi chơi tại nhà, C nói về g t lúa mùa vụ năm 2014. Do có nhiều máy g t ở địa phương khác đến cắt lúa thuê nên C cùng các chủ g t bàn nhau tìm cách đuổi không cho làm. Sau khi thống nhất v i nhau tìm người ch n đuổi xe máy g t từ địa phương khác đến, C điện thoại cho Nguyễn Xuân Th đến nhà C. Khi Th đến, C và các chủ máy g t nhờ Th ch n đuổi các xe chở máy g t lúa không cho vào địa bàn xã g t thuê thì Th đồng ý. C có đưa cho Th 3.000.000 đồng và hứa hẹn sẽ bồi dưỡng thêm nếu Th làm tốt. Sau khi từ nhà C về, Th đi rủ Vũ Văn Sg, Nguyễn Quang S và Đàm Ngọc V tham gia cùng Th đi ch n đuổi các xe máy g t lúa ở địa phươg khác đến địa bàn xã g t thuê và Th chia tiền ho c trả tiền công thì Sg, S và V đồng ý đi theo Th.

Sáng ngày 26/3/2014 Th cùng Sg, S, V và Đ ng Văn Thh uống cà phê tại quán Chiều Tím trư c UBND xã Ia Lâu, trong lúc uống cà phê Th nói: B y uốn cà ph xon ra tr m cửa rừn nhậu, c c chú cứ nhậu tho m hông ph lo n hĩ ì về chuy n t ền c, nhậu xon ở đấy thấy có xe chở m y phụt (m y ặt lúa) từ nơ h c đến thì chặn l nó chuy n và đuổ h về”. Lúc này S có nói Th cho Thh tham gia cùng thì Th đồng ý, Thh có hỏi Th: “Cụ thể ph làm v c ì” thì Th nói: “Cứ ra n oà a ăn nhậu, anh o ì thì làm nấy, anh tr t ền côn ”. Th hứa trả tiền công cho Thh 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) một ngày và trả cho Sg, S mỗi người 300.000 đồng một ngày. Do có việc nhà nên Đàm Ngọc V không đi, còn Th, Thh, S và Sg cùng nhau đi năn nhậu sau đó đến một chòi rẫy không có người ở gần cầu suối Đục xã Ia Lâu chờ xe chở máy g t lúa.

Cùng ngày 26/3/2014 anh Nguyễn Văn Tùng trú tại xã Ia Sol, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai điều khiển xe ô tô BKS 81L-0231 chở thuê 02 máy g t đập liên hợp của anh Bùi Xuân K và Đàm Văn Kh đi từ huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai lên xã Ia Lâu, huyện Chư Prông để g t lúa thuê, đến khoảng 24 giờ cùng ngày thì Tùng điều khiển xe ô tô đến khu vực cầu suối Đục xã Ia Lâu. Khi xe ô tô đi qua chỗ Th cùng đồng bọn đang canh thì Th phát hiện, Th cầm theo một con dao dài khoảng 50cm cùng S, Sg và Thh đi trên hai xe mô tô đuổi theo đến ku vực đồi Sao thuộc địa phận xã Ia Lâu thì S và Th đi một xe mô tô vượt lên trư c ch n xe ô tô lại, Sg và Thh đi một xe mô tô cũng đến sau và dừng lại gần đầu xe ô tô. Khi ch n được xe, Th gọi anh Tùng xuống xe nhưng anh Tùng không xuống thì Th dơ dao chỉ lên ca bin xe ô tô và nói: ”Mày có xuốn hôn ?”. Thấy vậy, Tùng mở c a xuống xe g p Th, Tùng gọi điện thoại cho chủ máy g t là các anh Kh và K đến giải quyết. Một lúc sau anh Kh và K đến cùng Hoàng Văn Xô và một số bạn của Xô cùng trú tại xã Ia Lâu. Tại đây Xô, K và Kh xin Th cho mang máy g t vào xã Ia Lâu làm vài hôm lấy tiền trả tiền thuê xe rồi sẽ về nhưng Th không đồng ý. Tuy nhiên K và Kh vẫn tiếp tục năn nỉ xin thì Th nảy sinh ý định lấy tiền của chủ máy g t nên Th nói: “Tô có thể cho ha anh đ , tô tìm c ch nó l vớ anh em sau, c c anh xem có ì cho anh em đ đ m đ hôm mấy đồn rồ tô tô cho c c anh vào, n oà tô c n có mấy anh em nữa, nó say hết rồ nếu hông có ì ồ d ỡn nó quậy hôn cho đ đ u”. Th yêu cầu anh K và Kh đưa cho Th cùng đồng bọn số tiền 4.000.000 đồng, K nói trong người chỉ còn lại 2.000.000 đồng. Sau một hồi thoả thuận Th đồng ý nhận 2.000.000 đồng và để K và Kh đưa máy g t vào xã Ia Lâu. Sau khi nhận tiền, Th đến chỗ Thh, S và Sg đang đứng cùng nhau, S hỏi: “Sao l cho xe đ ” Th nói: “nhà xe là chỗ n

nhà thằn Xô, h ồ d ỡn cho ít t ền rồ , tí về ch a” sau đó bốn người về chòi uống rượu. Tại đây, Th đưa cho Thh 300.000 đồng, S và Sg mỗi người 500.000 đồng, còn lại Th giữ 700.000 đồng. Sau khi chia tiền, S cùng đồng bọn ngủ lại chòi đến khi trời sáng thì về xã Ia Lâu ăn uống rồi tiếp tục ra chòi nhậu và canh xe, đến khoảng 13 giờ cùng ngày phát hiện có Công an đến nên S cùng đồng bọn bỏ chạy, sau đó S bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 15/12/2016 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Prông bắt tại xã Ia Tôr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai theo lệnh truy nã.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quang S, Vũ Văn Sg, Đ ng Văn Thh khai nhận đi theo Nguyễn Xuân Th để tạo thế đông người nhằm uy hiếp tinh thần những người bị ch n xe và làm việc theo sai khiến của Th v i mục đích để được Th trả tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Bùi Xuân K, Đàm Văn Kh đã được gia đình Nguyễn Xuân Th bồi thường số tiền 2.000.000 đồng nên không yêu cầu giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 17/02/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông truy tố bị cáo Nguyễn Quang S về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng x t x tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 135; Điều 20; Điều 53; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối v i bị cáo S, x phạt Nguyễn Quang S từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 24 giờ ngày 26/3/2014 tại khu vực Đồi Sao, xã Ia Lâu, Nguyễn Quang S đã có hành vi cùng Nguyễn Xuân T, Đ ng Văn Thh, Vũ Văn S tạo thế đông người, lợi dụng nơi vắng vẽ, s dụng hung khí để đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp tinh thần những người bị ch n xe và làm việc theo sai khiến của Th nhằm mục đích để được Th trả tiền không cho các bị hại Bùi Xuân K và Đàm Văn Kh vận chuyển máy g t lúa vào địa bàn xã Ia Lâu, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai để g t thuê, nếu muốn vào làm thì phải đưa tiền bồi dưỡng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, do lo sợ về tương quan lực lượng, sợ bị đánh, sợ bị đập phá máy g t lúa cũng như gây khó khăn trong quá trình làm ăn nên các anh K và Kh miễn cưỡng đưa cho Th và đồng bọn số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau khi bị chiếm đoạt số tiền trên, các bị hại đã trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra x lý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai x t x và tuyên phạt Nguyễn Xuân Th 15 (mười lăm) tháng tù; Vũ Văn Sg 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng hưởng án treo v i thời gian th thách là 24 tháng; Đ ng Văn Thh 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo v i thời gian th thách là 18 tháng. Hiện nay Nguyễn Xuân Th, Vũ Văn Sg, Đ ng Văn Thh đã chấp hành xong hình phạt.

Đối v i bị cáo Nguyễn Quang S là người bị Nguyễn Xuân Th rủ rê, lôi k o nhưng tích cực giúp sức tạo điều kiện tinh thần cùng Th thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản, tuy bị cáo Nguyễn Quang S không trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị hại nhưng khi Th cho xe đi thì bị cáo phản đối “Sao l cho xe đ ” thì được Th nói họ đã bồi dưỡng tiền và các bên phân chia tài sản chiếm đoạt được, bị cáo S nhận 500.000 đồng, sau đó Nguyễn Quang S bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã. Vì vậy Nguyễn Quang S là đồng phạm trong vụ án và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải x phạt bị cáo nghiêm để không chỉ răn đe, giáo dục đối v i bị cáo mà còn để phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt.

Tuy nhiên, x t tại phiên toà bị cáo S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không l n do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Liên quan đến vụ án có Đào Văn C và một số chủ máy g t, quá trình điều tra xác định C và một số chủ máy g t nhờ Th đi ch n đuổi xe không cho vào địa bàn xã Ia Lâu chứ không có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản nên hành vi của Đào Văn C và một số chủ máy g t không có dấu hiệu đồng phạm v i Th về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Điều 135 của Bộ luật hình sự.

Đối v i số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo S được Nguyễn Xuân Th phân chia mà có, quá trình điều tra Nguyễn Xuân Th đã nộp 2.000.000 đồng (nộp thay cho cả phần bị cáo S) để bồi thường cho các bị hại. Các bị hại Bùi Xuân K, Đàm Văn Kh đã nhận tài sản bị chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Nguyễn Xuân Th vắng m t tại phiên toà, song nếu có phát sinh tranh chấp sau này về phần bồi hoàn số tiền đã bồi thường trư c đây giữa Nguyễn Xuân Th và bị cáo S thì giải quyết bằng vụ việc dân sự độc lập khác.

Về x lý vật chứng: Đã được x lý trong bản án hình sự sơ thẩm số 61/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai nên Hội đồng x t x không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì c c l tr n;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

2. p dụng khoản 1 Điều 135; Điều 20; Điều 33; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự.

X phạt bị cáo Nguyễn Quang S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2016.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Quang S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (29/3/2017) bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai x t x theo trình tự phúc thẩm. Riêng những người bị hại , người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ