- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H, xử cho anh Nguyễn Trung H ly hôn chị Nguyễn Thị Bích T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2017/HNGĐ-ST Ngày 20/7/2017 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh Thu và ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đại - kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 22/2017/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2017/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2017 giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1993;
Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1996;
Đăng ký HKTT: thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
Chỗ ở hiện tại: thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1974, trú tại: thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1963, trú tại: thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.
Anh H, bà L có mặt, chị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, bà T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 15/5/2017, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là anh Nguyễn Trung H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Bích T kết hôn với nhau vào ngày 09/9/2014, sau khi kết hôn, chị T về chung sống cùng anh tại gia đình anh ở thôn L, xã V, huyện T. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2016, chị T đi bán hàng tại thành phố Hải Dƣơng, sau đó không biết vì lý do gì mà chị T không về chung sống cùng anh nữa. Anh nhiều lần gọi điện cũng nhƣ gặp gỡ để động viên chị T về sống cùng anh và nuôi con nhƣng chị T không về mà chỉ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn A, xã Q, huyện T rồi lại đi. Từ đó đến nay, anh chị sống ly thân nhau, chị T đi đâu, làm gì anh không biết, cũng không quan tâm gì đến anh và con. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh đƣợc ly hôn chị T.
Về quan hệ con chung: Anh và chị T có một con chung là Nguyễn Bảo Linh, sinh ngày 28/6/2014. Từ khi chị T bỏ đi, con vẫn do anh nuôi dƣỡng. Nay ly hôn, anh đề nghị đƣợc nuôi con và không yêu cầu chị T phải cấp dƣỡng nuôi con cùng anh.
Về tài sản chung: Anh và chị T không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản, tài liệu cho bị đơn là chị Nguyễn Thị Bích T và nhiều lần triệu tập chị T đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng chị T không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh H.
Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã V, đại diện Hội phụ nữ xã, Tƣ pháp xã và trƣởng thôn L, xã V để xác minh tình trạng hôn nhân của anh H và chị T. Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2017, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện ban, hội của địa phƣơng đều xác nhận chị T chung sống cùng anh H một thời gian thì bỏ đi khỏi gia đình, theo dƣ luận thì chị T thƣờng giao du với một số thành phần xấu trong xã hội, không quan tâm đến chồng con. Nay anh H xin ly hôn chị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H đƣợc ly hôn chị T và giao con cho anh H nuôi dƣỡng để đảm bảo cuộc sống của cháu nhỏ.
Ngƣời làm chứng là bà Phạm Thị T (là mẹ chị T) trình bày từ giữa năm 2016, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn A, xã Q, huyện T sống, sau đó thƣờng xuyên vắng nhà và đi lang thang với đám bạn xấu. Bà và chồng bà đã nhiều lần động viên, khuyên giải để chị T về chung sống với anh H nhƣng chị T không nghe. Từ khi bỏ đi khỏi nhà chồng, chị T không quan tâm gì đến chồng con nhƣng anh H vẫn chăm sóc con tốt.
Ngƣời làm chứng là bà Phạm Thị L (mẹ anh H) trình bày từ tháng 3/2016, chị T xin phép đi làm ở thành phố Hải Dƣơng rồi không về sống cùng anh H nữa. Bà đã nhiều lần gọi điện động viên chị T về sống cùng chồng con nhƣng chị T không về. Từ khi chị T bỏ đi, bà là ngƣời trực tiếp giúp đỡ anh H trong việc chăm sóc con.
Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh H đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 12/7/2017, bị đơn là chị Nguyễn Thị Bích T đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.
Tại phiên toà, anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị T và giải quyết việc nuôi con chung, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác. Chị T đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh H có mặt, chị T vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn và ngƣời làm chứng đã thực hiện đúng quyền- nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi; Về quan hệ hôn nhân xử cho anh H ly hôn chị T; Về con chung xử giao cháu Nguyễn Bảo Linh cho anh H nuôi dƣỡng, chị T không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng anh H; Về án phí: anh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị Bích T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Bích T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T vào ngày 09/9/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 2 năm thì chị T bỏ đi khỏi nhà và không về chung sống cũng nhƣ không quan tâm đến anh H nữa, anh chị ly thân nhau từ đó đến nay. Chị T nhiều lần đƣợc triệu tập đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với anh H nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ cũng đề nghị HĐXX xử cho anh H đƣợc ly hôn chị T. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh H, xử cho anh H đƣợc ly hôn với chị T.
Về quan hệ con chung: Mặc dù con chung của anh H và chị T còn nhỏ (sinh ngày 28/6/2014) nhƣng theo lời khai của anh H và những ngƣời làm chứng, từ khi chị T bỏ đi đến nay, con vẫn do anh H nuôi dƣỡng, chị T không quan tâm đến con, quan điểm của anh H đề nghị đƣợc nuôi con. Đại diện UBND xã V (cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình ở địa phƣơng) cũng đề nghị Tòa án giao con cho anh H nuôi dƣỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu nhỏ. Do đó, HĐXX thấy cần thiết tiếp tục giao cháu Nguyễn Bảo Linh cho anh H nuôi dƣỡng và chăm sóc, phù hợp với đề nghị của đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dƣỡng nuôi con cùng anh.
Về tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: anh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H, xử cho anh Nguyễn Trung H ly hôn chị Nguyễn Thị Bích T.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Trung H tiếp tục nuôi con là Nguyễn Bảo Linh, sinh ngày 28/6/2014 đến khi con đủ 18 tuổi. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dƣỡng nuôi con cùng anh. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Trung H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/0001905 ngày 16/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.
4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đƣơng sự;
| - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND xã V, huyện T; - Lƣu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Hƣơng Nhu |