vanban.org

Bản án 20/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Lường Văn T được ly hôn với chị Lường Thị M.

Về con chung: Giao cháu Lường Huyền C, sinh ngày 03/7/2014 cho anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lường Huyền C cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lường Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Lường Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Văn T và Lường Thị M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Lường Văn T được ly hôn với chị Lường Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2017/HNGĐ - ST.
Ngày: 20-9-2017.
( V/v: Xin ly hôn).

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ngọc Phương.

Bà Lê Hồng Nhung.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 20/ 9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2017/TLST - HNGĐ ngày 31/7/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2017/QĐST- HNGĐ, ngày 05/9/2017 giữa các đương sự:

*) Nguyên đơn: Anh Lƣờng Văn T; Sinh năm: 1992;

Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

*) Bị đơn: Chị Lƣờng Thị M; Sinh năm: 1986;

Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2017 và tại bản khai bổ sung tại Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nguyên đơn Anh Lường Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Lường Thị M kết hôn với nhau từ ngày 29/7/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp về tình cảm, bất đồng trong quan điểm sống, chị M đã đi làm thuê ở Hà Nội không còn quan tâm tới chồng con. Anh, chị đã sống ly thân từ ngày 17/4//2017, cho đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay anh Lường Văn T xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lường Thị M.

Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có một con chung: Cháu Lường Huyền C, sinh ngày 03-7-2014. Nay ly hôn nguyện vọng của anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Châu đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lường Văn T không yêu cầu chị Lường Thị M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành các thủ tục giao, gửi: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật thông qua UBND xã C, huyện T, tỉnh Sơn La nơi cư trú của bị đơn chị Lường Thị M. Tuy nhiên phía chị Lường Thị M vẫn cố tình không chấp hành có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Ngày 06/9/2017, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên anh Lường Văn T đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Lường Thị M không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử :

1. Về hôn nhân: Đề nghị xử cho anh Lường Văn T được ly hôn với chị Lường Thị M.

2. Về con chung: Đề nghị xử giao cháu Lường Huyền C, sinh ngày 03/7/2014 cho anh Lường Văn T được trực tiếp được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lường Thị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Lường Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Anh Lường Văn T là hộ nghèo năm 2017 nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành các thủ tục giao, gửi, niêm yết: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật thông qua chính quyền địa phương nơi bị đơn cư trú nhiều lần, theo quy định tại 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn chị Lường Thị M vẫn cố tình không chấp hành và Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự theo đúng quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Anh Lường Văn T và chị Lường Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Sơn La vào ngày 29/7/2013 đúng theo quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa anh Lường Văn T và chị Lường Thị M là hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, anh chị đã sống ly thân từ ngày 17/4/2017 chị M đi làm thuê ở Hà Nội, không quan tâm tới chồng con từ đó cho đến nay. Anh Lường Văn T có đơn yêu cầu xin ly hôn. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh Lường Văn T và chị Lường Thị M tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho anh Lường Văn T được ly hôn với chị Lường Thị M. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Trong thời chung sống anh, chị có một con chung là cháu Lường Huyền C, sinh ngày 03/7/2014. Nay ly hôn anh Lường Văn T có nguyện vọng là được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu chị Lường Thị M phải cấp dưỡng nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, xem xét tình hình thực tế của anh Lường Văn T có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lường Huyền C cho anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu là hợp tình, hợp lý và cũng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu về ăn mặc, học hành cùng những điều kiện khác cho sự phát triển thể chất và tinh thần. Anh Lường Văn T không yêu cầu chị Lường Thị M cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận. Chị Lường Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Anh Lường Văn T có giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2017 được UBND xã C, huyện T xác nhận nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo : Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật căn cứ Điều 271, Điều 273 BLTTDS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Lường Văn T được ly hôn với chị Lường Thị M.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Huyền C, sinh ngày 03/7/2014 cho anh Lường Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lường Huyền C cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lường Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Lường Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lường Văn T có chứng nhận hộ nghèo năm 2017 nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng ) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai thu số AA/2013/03440 ngày 31/7/2017.

4. Anh Lường Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Chị Lường Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo thủ tục hợp lệ./.

Cỡ chữ