vanban.org

Bản án 20/2017/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 23/11/2017 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N1 với ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M về việc nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A như sau: Giao cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 cho ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành lao động tư…

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N1 tự nguyện nộp 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 08962 ngày 17/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị N1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án phí dân sự phúc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N1 - Phạm Văn N2 - " Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ""
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N1 với ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M về việc nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A như sau: Giao cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 cho ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành lao động tư…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2017/HNGĐ-PT
Ngày 23-11-2017
V/v thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Cao Tản

Ông Phạm Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2017/TLPT-HNGĐ ngày 16/10/2017 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 158/2017/HNGĐ-ST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2017/QĐXX-PT ngày 13 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991; cư trú tại: Thôn 4, xã Định Long, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: 1. Ông Phạm Văn N2, sinh năm 1963;

2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961;

Đều cư trú tại: Xóm 9B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M:

Ông Phạm Văn N2; cư trú tại: Xóm 9B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/11/2017.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn N2.

Tại phiên toà phúc thẩm: Ông N2, chị N1 có mặt. Vắng mặt bà M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N1 trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn Kh năm 2014, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị đã làm đơn xin ly hôn anh Kh. Ngày 06/01/2017 Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu ra quyết định số 04/2017/QĐST-HNGĐ công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh Kh, về con chung hai bên thỏa thuận anh Kh nuôi cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung mà được quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

Sau khi ly hôn được 2 tháng anh Kh bị tai nạn giao thông chết ngày 23/3/2017, kể từ khi anh Kh chết con chung do ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M là ông bà nội nuôi dưỡng. Do cháu A còn quá nhỏ mới được hơn 1 tuổi, nên chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng nhưng vợ chồng ông N2 bà M không đồng ý. Nay chị khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông N2 bà M giao cháu An cho chị nuôi dưỡng, chị sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho ông N2 bà M được thăm nom, chăm sóc cháu A.

Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M là bị đơn đều trình bày:

Ông bà xác nhận cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 là con chung của chị Nguyễn Thị N1 và anh Phạm Văn Kh, anh Kha là con trai của ông bà. Cháu A đang do ông bà nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi anh Kh bị tại nạn giao thông chết ngày 23/3/2017 đến nay. Khi còn chung sống với anh Kh, chị N1 không quan tâm việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, cháu A được 1 tháng 3 ngày tuổi chị N1 đã bỏ con ra đi, đến khi cháu được 5 tháng tuổi chị N1 uống thuốc giảm cân, bị tắc sữa, do không còn sữa mẹ dẫn đến cháu A hay bị ốm, bị suy dinh dưỡng. Khi giải quyết ly hôn chị N1 chỉ nghĩ đến tiền nên nhận chia phần tài sản nhiều hơn, chị đã tự nguyện để con lại cho anh Kh nuôi dưỡng, khi đó cháu A mới được mấy tháng tuổi. Cháu A chủ yếu do ông bà nuôi dưỡng từ nhỏ. Vì vậy, ông bà không nhất trí giao cháu A cho chị N1 nuôi dưỡng, mà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 158/2017/HNGĐ-ST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N1 và vợ chồng ông Phạm Văn N2 bà Nguyễn Thị M.

2. Buộc ông Phạm Văn N2 bà Nguyễn Thị M phải giao cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 cho chị Nguyễn Thị N1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được. Ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M có quyền thăm nom cháu A nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu A.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/8/2017 ông Phạm Văn N2 kháng cáo bản án sơ thẩm số 158/2017/HNGĐ-ST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đề nghị cấp phúc thẩm xem xét để ông bà tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Chị N1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ông N2 giữ nguyên đơn kháng cáo. Các đương sự thỏa thuận với nhau về việc nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm ông N2 và chị N1 tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự. Án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Thị N1 và ông Phạm Văn N2 thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án như sau: Ông N2 và bà Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 cho đến khi cháu An trưởng thành, lao động tự lập được, chị N1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu An. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên căn cứ khoản 1 Điều 300 BLTTDS, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn N2 nộp 300.000đ nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N1 tự nguyện nộp 300.000đ nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 300 BLTTDS, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Sửa án sơ thẩm.

1. Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N1 với ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M về việc nuôi dưỡng cháu Phạm Phúc A như sau: Giao cháu Phạm Phúc A, sinh ngày 24/5/2016 cho ông Phạm Văn N2 và bà Nguyễn Thị M tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành lao động tự lập được, chị N1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu A. Chị N1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu A. Ông N2 và bà M không được cản trở chị N1 thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu A.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N1 tự nguyện nộp 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 08962 ngày 17/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị N1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn N2 nộp 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 09036 ngày 09/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Ông N2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ