vanban.org

Bản án 199/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Quách Thị H và ông Nguyễn Thanh P.

Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Nguyễn Quách Q, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2012 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2017 cho ông Nguyễn Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Quách Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Về án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Quách Thị H với ông Nguyễn Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Quách Thị H và ông Nguyễn Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mạc Hoàng Nhủ.

Ông Trần Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 421/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Quách Thị H, sinh năm 1993 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 6 năm 2023 nguyên đơn bà Quách Thị H trình bày: Vào năm 2011 bà và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện chung sống với nhau đến năm 2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2020 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải

-1-quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Trong quá trình chung sống bà và ông P có hai người con chung tên Nguyễn Quách Q, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2012 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2017 con chung đang do ông P trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Đối với ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông P vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị H. Cho bà H ly hôn với ông Nguyễn Thanh P; giao hai người con chung cho ông Nguyễn Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Quách Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh P, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Quách Thị H là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Quách Thị H. Ông Nguyễn Thanh P là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Quách Thị H và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, đến năm 2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Việt Tháng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà Quách Thị H với ông Nguyễn Thanh P là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà H yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Thanh P nhiều lần để tham gia xét xử nhưng ông P vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Quách Thị H. Bà H cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2020 đến nay. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đở lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Quách Thị H với ông Nguyễn Thanh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Quách Thị H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

-2-

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Quách Thị H với ông Nguyễn Thanh P có hai người con chung tên Nguyễn Quách Q, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2012 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2017, con chung do ông P đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà H yêu cầu giao hai người con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Nguyễn Thanh P nhưng ông P không có ý kiến gì về yêu cầu của bà H về việc yêu cầu giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi bà H và ông P không còn chung sống đến nay con chung do ông P trực tiếp nuôi dưỡng và người con chung tên Nguyễn Quách Q có nguyện vọng được chung sống với ông P. Để bảo đảm quyền lợi của con chung và sự ổn định của cuộc sống người con chung nên Hội đồng xét xử giao hai người con chung tên Nguyễn Quách Q, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2012 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2017 cho ông Nguyễn Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Quách Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Ông P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà Quách Thị H, ông Nguyễn Thanh P không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Quách Thị H phải chịu 300.000đ, bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Quách Thị H và ông Nguyễn Thanh P.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Nguyễn Quách Q, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2012 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2017 cho ông Nguyễn Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Quách Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

-3-

3. Về án phí: Bà Quách Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019023 ngày 26 tháng 06 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ