vanban.org

Bản án 199/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Minh T. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Minh T được ly hôn anh Phan Văn T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 199/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 7 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé

2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 455/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Minh T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Phan Văn T1, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. C sống đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T1 tham gia đánh bạc gây gây nợ nần và có hành vi đánh đập chị T1. Đỉnh điểm phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị T và anh T1 có cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Huỳnh Minh H, sinh ngày 25/10/2008 và Phan Huỳnh Quang H1, sinh ngày 26/9/2013, hiện nay đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phan Văn T1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Huỳnh Minh T trình bày: Vợ chồng chung sống đến năm 2005 thì không còn tiếng nói chung, thường phát sinh mâu thuẫn do anh T1 có hành vi tham gia đánh bạc gây nợ nần và bạo lực gia đình đối với chị T. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2015 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị T và anh T1; chị T và anh T1 cũng có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và cho nhau cơ hội nhưng không hàn gắn được. Do đó, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, về quan hệ hôn nhân, chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1; về con chung, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Phan Huỳnh Minh H, sinh ngày 25/10/2008 và Phan Huỳnh Quang H1, sinh ngày 26/9/2013, hiện nay đang sống với chị T; chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phan Văn T1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Minh T. Về quan hệ hôn nhân, chị Huỳnh Minh T được ly hôn với anh Phan Văn T1. Chị Huỳnh Minh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Phan Huỳnh Minh H, sinh ngày 25/10/2008 và Phan Huỳnh Quang H1, sinh ngày 26/9/2013; anh Phan Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện, giấy khai sinh của Phan Huỳnh Minh H và Phan Huỳnh Quang H1, anh Phan Văn T1 có nơi cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 26/7/2023, anh Phan Văn T1 có cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, khi đi không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được nơi cư trú hiện nay của anh Phan Văn T1. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Phan Văn T1 tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chị Huỳnh Minh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Phan Văn T1, yêu cầu được tiếp tục chăm, sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Phan Văn T1 (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với anh Phan Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Đồng thời, tại phiên tòa, anh Phan Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Văn T1.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Huỳnh Minh T cho rằng, chị T và anh T1 do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào 14/3/2002. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T1 có hành vi tham gia đánh bạc gây nợ nần và hành vi bạo lực gia đình với chị T. Đỉnh điểm phát sinh mâu thuẫn vào năm 2015 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị T và anh T1; bản thân chị T và anh T1 có cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.

Anh Phan Văn T1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Minh T.

Xét thấy, chị Huỳnh Minh T và anh Phan Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Phan Văn T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị T theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị T và anh T1 theo quy định của pháp luật nhưng anh T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Phan Văn T1 không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 nên lời trình bày của chị T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị T yêu cầu ly hôn anh T1 phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Đối với con chung:

Chị Huỳnh Minh T xác định chị T và anh T1 có 02 con chung tên Phan Huỳnh Minh H, sinh ngày 25/10/2008 và Phan Huỳnh Quang H1, sinh ngày 26/9/2013, hiện nay đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị T và anh T1 ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị T, từ khi vợ chồng sống ly thân, các con chung sinh sống với chị T cho đến nay nên tình cảm của các cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình sinh sống với chị T, các con chung được đi học và phát triển bình thường. Đồng thời, các con chung đều có nguyện vọng được sống với chị T. Để ổn định cuộc sống cho cháu Phan Huỳnh Minh H và cháu Phan Huỳnh Quang H1, giúp các cháu phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Minh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn nên anh Phan Văn T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Huỳnh Minh T không yêu cầu anh Phan Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Huỳnh Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Minh T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Minh T được ly hôn anh Phan Văn T1.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17, quyển số 01, ngày 14/3/2002 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Huỳnh Minh T và anh Phan Văn T1 không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Huỳnh Minh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Huỳnh Minh H, sinh ngày 25/10/2008 và Phan Huỳnh Quang H1, sinh ngày 26/9/2013. Hiện nay đang sống với chị Huỳnh Minh T.

Anh Phan Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Huỳnh Minh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Phan Văn T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Minh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0013524 ngày 25/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ