- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê văn t - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/8/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 199/2022/HSST Ngày: 23/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Hùng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Công Hải
2. Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiên - Thư ký tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKS nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 174/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ tên: Lê Văn T. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 30/9/1984, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm V, xã D, Huyện D, Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Văn T, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ: Mai Thị H, sinh năm 1952; Hiện trú tại: xóm V , xã D, huyện D, Nghệ An; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ: Lê Thị D, sinh năm 1988; Con: có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: không
Tiền sự: Năm 2022 bị UBND xã D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ trộm cắp tài sản” theo QĐ số 13/QĐ-XPHC ngày 20/01/2022, nộp phạt ngày 28/7/2022.
Nhân thân: - Năm 2013, bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 tại bản án số 54/2013/HS-ST ngày 26/6/2013. Chấp hành xong ngày 04/01/2014.
- Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 tại bản án số 123/2014/HS-ST ngày 30/10/2014. Chấp hành xong ngày 01/02/2016.
- Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 tại bản án số 105/2016/HSST ngày 30/8/2016. Chấp hành xong ngày 04/7/2017.
- Năm 2020 bị công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo QĐ số 605/QĐ- XPVPHC ngày 28/9/2020, nộp phạt ngày 28/9/2020.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2022. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ A. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1965
Trú tại: Xóm 1, xã D, huyện D, Nghệ An (vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Quế Văn Đ, sinh năm 1973
Trú tại: Xóm Đ, xã D, D, Nghệ An (vắng mặt)
+ Chị Trần Thị Th, sinh năm 1994
Trú tại: Xóm Đ, xã D, D, Nghệ An (vắng mặt)
+ Chị Lê Thị D, sinh năm 1988
Trú tại: Xóm V, xã D, D, Nghệ An (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 30/7/2022, Lê Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA sơn màu đen, biển kiểm soát 60B9- 028.62 đi đến xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để giao hoa quả cho khách hàng. Khi đi qua nhà ông Trần Xuân Th, sinh năm 1965, trú tại xóm 1, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Thông phát hiện phía sau nhà ông Th có treo nhiều giỏ phong lan nên Lê Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này T dựng xe sát tường rào bên phải nhà ông Th, đứng lên yên xe rồi dùng tay phải với lấy 02 cụm cây phong lan gồm: 01 cụm cây lan, loại đùi dẹt chiều cao từ 25 cm đến 40 cm được gắn vào khúc gỗ, tổng trọng lượng cả cây và giá gỗ là 1,9 kg và 01 cụm lan, loại lan đuôi chồn, chiều cao các cây làn từ 35 đến 50 cm được gắn vào khúc gỗ, tổng trọng lượng cả cây và giá gỗ là 1,6 kg. Sau khi trộm cắp được tài sản, T mang về treo tại nhà mình để cất giấu với mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Ngày 08/8/2022 ông Trần Xuân Th đã là đơn trình báo về việc bị mất trộm 02 giỏ phong lan trên
Đến ngày 08/8/2022 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Lê Văn T đã đến công an huyện D để đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 giỏ phong lan trên.
Tại kết luận định giá tài sản ngày 11/8/2022, Hội đồng định giá tài sản UBND huyện D kết luận: 01 cụm cây lan, loại đùi dẹt chiều cao từ 25 cm đến 40 cm được gắn vào khúc gỗ, tổng trọng lượng cả cây và giá gỗ là 1,9 kg giá 150.000 đồng; 01 cụm lan, loại lan đuôi chồn, chiều cao các cây làn từ 35 đến 50 cm được gắn vào khúc gỗ, tổng trọng lượng cả cây và giá gỗ là 1,6 kg giá 150.000 đồng.
Về thu giữ và xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 02 cụm cây phong lan Lê Văn T trộm cắp của ông Trần Xuân Th, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn Yamaha, sơn màu đen, BKS 60B9- 028.62 đã qua sử dụng. Hiện đang tạm giữ tại cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Ch để xác minh xử lý sau.
Cáo trạng số 199/CT-VKSDC ngày 03/10/2022 đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 02 cụm cây phong lan Lê Văn T trộm cắp của ông Trần Xuân Th, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn Yamaha, sơn màu đen, BKS 60B9- 028.62 đã qua sử dụng, tiếp tục giao cho CQĐT tiếp tục làm rõ và trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Như vây, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/7/2022, tại nhà ông Trần Xuân Th, thuộc xóm 1, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Trần Xuân Th 02 cụm cây phong lan trị giá 300.000 đồng. Mặc dù tài sản chiếm đoạt chưa đến 2.000.000 đồng nhưng trước đó ngày 20/01/2022, bị cáo bị Công an xã D, huyện D xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 30/7/2022 bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra Tòa án nhân dân huyện Diễn C để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Việc bị cáo phạm tôị nhiều lần thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, HĐXX xét thấy cần lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và để răn đe phòng ngừa chung.
. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú và tự nguyện trả lại tài sản cho bị hại. Bố mẹ bị cáo tham gia kháng chiến cứu nước, là người có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 02 cụm cây phong lan Lê Văn T trộm cắp của ông Trần Xuân Th, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn Yamaha, sơn màu đen, BKS 60B9- 028.62 đã qua sử dụng, tiếp tục giao cho CQĐT xác định chủ sở hữu hợp pháp để giao trả.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/8/2022.
- Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn Yamaha, sơn màu đen, BKS 60B9- 028.62 đã qua sử dụng, hiện đang được tạm giữ tại cơ quan CSĐT. Tiếp tục giao cho cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyề lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tòa án niêm yết hợp lệ bản án. Nơinhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- Những người TGTT;
| - VKS huyện Diễn Châu; - VKS tỉnh Nghệ An - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự h.Diễn Châu; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Khánh Đoàn Thị Loan | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Xuân Hùng THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Xuân Hùng |