- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN PHI H-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:199/2022/HS-ST Ngày: 08 -12-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đức Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn (bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân thành phố Thủ Dầu Một và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Dầu Một) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Phi H, sinh năm: 1994, tại tỉnh Bình Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 29/4 Khu phố M1, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Nghĩa H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con. Tiền án: Ngày 14/5/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử phạt 09 (tháng) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2021/HS-ST; tiền sự: Ngày 08/9/2020 bị Trưởng công an phường Phú Cường xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 50/QĐ-XPHC.
Nhân thân:
- Ngày 09/11/2015, bị Trưởng Công an phường Chánh Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 70/QĐ-XPHC.
- Ngày 01/12/2015, bị Trưởng Công an phường Chánh Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71/QĐ-XPHC.
- Ngày 19/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 21/2017/HSST.
- Ngày 11/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 157/2017/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31 tháng 10 năm 2022 đến nay; có mặt.
Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Dầu Một.
Bị hại: Ông Đoàn Thanh P - Đại diện Hộ kinh doanh Đoàn Thanh P; địa chỉ: Số xx Nguyễn Thị Minh K, Tổ 4, Khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một).
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Phương K. (Tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một).
Người chứng kiến: Ông Ôn Trần Khánh A (Tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và biễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phi H là đối tượng không có nghề nghiệp và bản thân có tiền án về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/9/2021).
Khoảng 12 giờ ngày 31/10/2022, trong lúc Trần Phi H do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên, H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 53V5-72xx đi vòng quanh trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố Thủ Dầu Một để tìm tài sản của người khác để sở hở nhằm lấy trộm. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe đi ngang qua nhà số xx, đường Nguyễn Thị Minh K, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy xe ô tô tải, biển số 61C-450.xx đang đỗ trước nhà, trên thùng xe có để nhiều bộ Drap vải bọc nệm cùng với bàn học sinh gỗ ép của hộ kinh doanh Đoàn Thanh P nhưng xung quanh không có người trông coi nên H dừng lại và dựng xe mô tô biển số 53V5-72xx kế bên thùng xe tải rồi trèo lên thùng xe lấy trộm 08 (tám) bộ Drap vải bọc nệm, kích thước 160 cm x 200 cm; 04 (bốn) bàn học sinh gỗ ép, kích thước 40 cm x 60 cm bỏ lên gác ba ga xe mô tô biển số 53V5-72xx. Tiếp đó, khi H định nổ máy chạy đi thì bị bà K phát hiện, truy hô và cùng người dân xung quanh bắt giữ H và thu giữ số vật chứng gồm: 08 (tám) bộ Drap vải bọc nệm; 04 (bốn) bàn học sinh gỗ ép và 01(một) xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 53V5-72xx, giao cho Công an phường Phú Hòa để lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với Trần Phi H về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngay sau đó, Công an phường Phú Hòa chuyển hồ sơ vụ việc, đối tượng H và số vật chứng đã thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 315/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 08 (tám) bộ Drap vải bọc nệm, kích thước 160 cm x 200 cm trị giá 1.440.000 (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng; 04 (bốn) bàn học sinh gỗ ép, kích thước 40 cm x 60 cm trị giá 220.000 (hai trăm hai mươi nghìn) đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 1.660.000 (một triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Đối với 08 (tám) bộ Drap vải bọc nệm và 04 (bốn) bàn học sinh gỗ ép, quá trình điều tra xác định số tài sản trên là của Hộ kinh doanh Đoàn Thanh P, do đó, vào ngày 07/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả lại cho bà K (vợ của ông Đoàn Thanh P) theo Quyết định xử lý vật chứng số 84 ngày 07/11/2022; hiện bà K không yêu cầu giải quyết thêm gì khác.
Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 53V5-72xx, số máy LC152FMH01714679, không có số khung, qua xác minh không xác định được nguồn gốc xe. Trần Phi H khai mua lại xe trên thông qua trang mạng mua bán xe, khi mua không có giấy chứng nhận đăng ký xe và không nhớ rõ người bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có cá nhân hay tổ chức nào đến nhận lại nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 202/QĐ-VKSTDM ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Trần Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 53V5-72xx, số máy LC152FMH01714679, không có số khung, qua xác minh không xác định được nguồn gốc xe, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không xác định được chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/10/2022, tại địa chỉ số xx Nguyễn Thị Minh K, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trần Phi H là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã có hành vi lén lút trộm cắp 08 (tám) bộ Drap vải bọc niệm, kích thước 160cm x 200cm; 04 bàn học sinh gỗ ép, kích thước 40cmx 60cm bỏ lên xe mô tô biển số 53V5-72xx chạy đi thì bị phát hiện bắt giữ. Tổng giá trị mà bị cáo chiếm đoạt là 1.660.000 đồng. Tuy giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng bản thân bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 202/QĐ-VKSTDM ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và giao trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Wave, màu xanh, xe không có bửng, thân xe bị trầy xước nhiều, đuôi xe bị bể, biển số 53V5-72xx, số máy LC152FMH01714679, không có số khung quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã đăng thông báo tìm kiếm chủ sở hữu, nhưng không xác định được chủ sở hữu và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 331, 333, 462, 463 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Phi H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/10/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiểu dáng Wave, màu xanh, xe không có bửng, thân xe bị trầy xước nhiều, đuôi xe bị bể, biển số 53V5-72xx, số máy LC152FMH01714679.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 020.23 ngày 21.11.2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Phi H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THA thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Nga |