- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Kim A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim A phạm về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự Xử phạt; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L Bản án số:199/2022/HS-ST Ngày: 07 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Quang Vinh
+ Ông Mai Phú
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/ 2022/QĐXXST - HS ngày 25/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Kim A (tên gọi khác: Xoài), sinh năm: 1986; tại: Thừa Thiên - Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 6, xã Ng Đ, Huyện T L, Tỉnh B T; nơi cư trú: Thôn Phước An, xã Đ H, huyện M Đ, Tỉnh Q Ng; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; con ông: Trần Văn Đ, sinh năm: 1943 và bà: Trần Thị H, sinh năm: 1953; chồng: Nguyễn Ngh, sinh năm: 1956 (không đăng ký kết hôn); có 03 con, lớn nhất sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm: 2018; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 58/2013/HSST ngày 29/5/2013, Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Thị Kim A 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án ngày 12/12/2013.
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 02/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Ph, sinh năm: 1970
Địa chỉ: Số 54/3 Đ Ph, Phường 7, Thành phố Đ, Tỉnh L.
(Bị cáo có mặt, người bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 ngày 09/6/2012, Trần Thị Kim A đón xe từ g Đ, Huyện T L, Tỉnh B T đến nhà của cô ruột là bà Trần Thị L tại nhà số 54/3 Đ Ph, Phường 7, Thành phố Đ với mục đích để mượn tiền tiêu xài. Do cô L không có tiền và nói Kim A ở lại chơi hôm sau về thì Kim A đồng ý. Đến khoảng 05 giờ ngày 10/6/2012, Kim A thức dậy thấy gia đình cô L đi lễ nhà thờ, chỉ có anh Nguyễn Ph là con của cô L đang ngủ. Lúc này, Kim A phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu đen - xám, biển số 49N3 - 071 của anh Ph đang dựng ở phòng khách, chìa khóa vẫn để trên xe nên Kim A nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Thực hiện ý định, Kim A mở cửa chính dắt chiếc xe ra ngoài rồi nổ máy chạy về B Th để bán lấy tiền tiêu xài. Khi Kim A điều khiển xe trên Quốc lộ 20 thuộc địa bàn thị trấn Liên Ngh, huyện Đ Tr, tỉnh L thì anh Ph đuổi theo bắt giữ giao cho cơ quan Công an.
Trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, do Kim A đang mang thai nên Cơ quan điều tra không áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Quá trình tại ngoại, Kim A đã bỏ trốn nên bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ truy nã. Sau đó, Kim A đến thành phố Hồ Chí Minh làm thuê rồi đến Quảng Ngãi sinh sống. Đến ngày 02/6/2022, Kim A đến Công an tỉnh L đầu thú (BL: 55-61, 73-85).
Tang vật được thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đen - xám, biển số 49N3 - 071;
- 01 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Kim A (BL: 09, 47).
Bị hại: Anh Nguyễn Ph, sinh năm 1970, nơi cư trú: 54/3 Đ Ph, Phường 7, Thành phố Đ, Tỉnh L, bị chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đen - xám, biển số 49N3 - 071. Chiếc xe này được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định có giá trị 13.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh Ph, anh Ph đã nhận lại xe, không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Kim A (BL: 43-45, 54).
Tại bản cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 26/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo Trần Thị Kim A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 2009.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Kim A khai nhận, vào khoảng 05 giờ 00 ngày 09/6/2012, tại nhà số 54/3 Đ Ph, Phường 7, Thành phố Đ, Kim A đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đen, xám, biển số 49N3-071 của anh Nguyễn Ph, mục đích để bán lầy tiền tiêu xài cá nhân như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị Kim A về tội “Trộm cắp tài sản” , đồng thời căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Trần Thị Kim A từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Kim A: Trần Thị Kim A từ Bình Thuận đến nhà của cô ruột là bà Trần Thị L tại nhà số 54/3 Đ Ph, Phường 7, Thành phố Đ với mục đích để mượn tiền tiêu xài. Do cô L không có tiền và nói Kim A ở lại chơi hôm sau về thì Kim A đồng ý. Đến khoảng 05 giờ ngày 10/6/2012, Kim A thức dậy thấy gia đình cô L đi lễ nhà thờ, chỉ có anh Nguyễn Ph là con của cô L đang ngủ. Lúc này, Kim A phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu đen - xám, biển số 49N3 - 071 của anh Ph đang dựng ở phòng khách, chìa khóa vẫn để trên xe nên Kim A nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Thực hiện ý định, Kim A mở cửa chính dắt chiếc xe ra ngoài rồi nổ máy chạy về Bình Thuận để bán lấy tiền tiêu xài. Khi Kim A điều khiển xe trên Quốc lộ 20 thuộc địa bàn thị trấn Liên Ngh, huyện Đ Tr, tỉnh L thì anh Ph đuổi theo bắt giữ giao cho cơ quan Công an. Trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, do Kim A đang mang thai nên Cơ quan điều tra không áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Quá trình tại ngoại, Kim A đã bỏ trốn nên bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ truy nã. Sau đó, Kim A đến thành phố Hồ Chí Minh làm thuê rồi đến Quảng Ngãi sinh sống. Đến ngày 02/6/2022, Kim A đến Công an tỉnh L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tài sản bị cáo Kim A chiếm đoạt có tổng giá trị là 13.500.000đ (mười ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Xét thấy, bị cáo Trần Thị Kim A là người đã trưởng thành và đủ năng lực về trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Trần Thị Kim A không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội trước ngày Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành nên căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH 14, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Trần Thị Kim A phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, như cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 26/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thị Kim A là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự giác ra đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng các điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đen - xám, biển số 49N3 - 071, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh Ph. Anh Ph không thắc mắc, yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim A phạm về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim A 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2022.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Thị Kim A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L (02); - Sở Tư pháp tỉnh L; - VKSND tp. Đ; - Công an tp. Đ; - Chi cục THADS tp. Đ; - Bị cáo; người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Huyền |