vanban.org

Bản án 199/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2022/HS-PT
Ngày: 27-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 174/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn Thắng do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ văn hóa: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn C (chết) và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1942; vợ: Không có, con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/4/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người”, đã chấp hành xong bản án. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 22/11/2021, Nguyễn Văn T đi bộ đến nhà bà Lê Thị L (là vợ cũ của T) ở thôn P, xã A, huyện H nhưng cửa cổng nhà đã đóng. Lúc này, T gọi để mở cửa nhưng gia đình bà L không ai dám ra mở nên đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đức Q về nhà nghe vợ là Nguyễn Thị Yến L kể lại sự việc T đến nhà đập cửa cổng. Sau đó, Q đi ra ngoài sân la lớn “Sao cứ xuống quậy phá luôn, sao không để gia đình yên ổn làm ăn”, T nghe vậy nên đi bộ đến trước nhà bà Lê Thị L la chửi, hai bên có lời qua tiếng lại. Đồng thời, T cầm 01 cái cuốc đến vị trí xe mô tô biển số 77K1-286.XX của chị L, dùng tay xô ngã và dùng cuốc đập 03 cái vào xe gây hư hỏng. T bỏ cuốc đi vào trong nhà cầm một cái rựa chém nhiều cái vào tủ nhựa của bà L làm hư hỏng và vỡ kính. Sau đó, T cầm rựa đi lên phòng khách chém nhiều cái vào cửa phòng khách, cửa chính, cửa sổ có khung sắt gắn tôn của bà L và 01 cái ghế gỗ của chị L gây hư hỏng. Lúc này, Q thấy T cầm rựa đến gần hàng rào nên lấy bình xịt hơi cay vào người T nhưng không trúng. Sau đó, T tiếp tục quay lại vị trí xe mô tô nói trên chém nhiều cái vào phần đầu của xe gây hư hỏng.

Ngày 08/02/2022, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 xe mô tô biển số 77K1-286.XX bị hư hỏng có giá trị 3.016.000 đồng, 01 tủ nhựa bị hư hỏng có giá trị 600.000 đồng, 01 ghế gỗ bị hư hỏng có giá trị 900.000 đồng, 01 cửa bằng khung sắt gắn tôn, kích thước (1 x 1,95)m bị hư hỏng có giá trị 700.000 đồng, 01 cửa sổ bằng khung sắt gắn tôn, kích thước (0,98 x 1,17)m bị hư hỏng có giá trị 400.000 đồng, 01 cửa sổ bằng khung sắt gắn tôn, kích thước (67 x 173)cm bị hư hỏng có giá trị 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.116.000 đồng.

Về phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T chưa khắc phục hậu quả cho các bị hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn Tg kháng cáo yêu cầu: Triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm những người làm chứng là anh Trương Minh H, chị Nguyễn Thị Thúy N; giám định dấu vân tay trên cán cây cuốc; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2021, tại nhà của bà Lê Thị L ở thôn P, xã A, huyện H, bị cáo Nguyễn Văn T đã dùng cuốc và rựa đập phá xe mô tô biển số 77K1-286.XX, 01 ghế gỗ của chị Nguyễn Thị Yến L và 01 tủ nhựa, 02 cửa lớn, 01 cửa sổ khung sắt gắn tôn của bà Lê Thị L. Tổng trị giá thiệt hại là 6.116.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét các nội dung: Triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm những người làm chứng là anh Trương Minh H, chị Nguyễn Thị Thúy N; giám định dấu vân tay trên cán cây cuốc; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự của bị cáo:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị cáo chỉ thừa nhận đã dùng rựa chém vào xe mô tô, xô ngã xe, chém vào 01 tủ nhựa, 02 cửa khung sắt lớn gắn tone, 01 cửa sổ khung sắt gắn tone và 01 ghế gỗ gây hư hỏng chứ không thừa nhận có dùng cuốc để đập phá tài sản; nhân chứng Trần Thị Thanh N nhìn thấy bị cáo dùng rựa chém vào xe mô tô; lời khai của chị Nguyễn Thị Yến L (tại BL số 107) thấy bị cáo dùng rựa chém hư hỏng tài sản, trước đó bị cáo có cầm cuốc quơ loạn xạ nhưng không trúng vật gì. Các tài sản mà bị cáo chém gây hư hỏng và trị giá thiệt hại từng tài sản đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra và Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận nên cần xác định bị cáo là người trực tiếp gây hư hỏng tài sản của bà Lê Thị L và chị Nguyễn Thị Yến L. Theo đó, yêu cầu triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm những người làm chứng là Trương Minh H và Nguyễn Thị Thúy N và yêu cầu giám định dấu vân tay trên cán cây cuốc của bị cáo là không cần thiết.

Bị cáo cho rằng bản thân phạm tội là do tinh thần bị kích động bởi hành vi của anh Q đã xịt hơi cay vào người bị cáo nhưng giữa bị cáo với bà L, chị L và anh Q đã có mâu thuẫn từ trước nên thường xảy ra to tiếng với nhau. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm đến tài sản của người khác. Theo đó, không chấp nhận việc bị cáo yêu cầu áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra được chứng cứ, tình tiết gì mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

1.2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ