- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị N và anh L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Trọng L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 199/2022/HNGĐ - ST Ngày: 28/12/2022. V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Doãn Ước, Ông: Phạm Viết Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 168/2022/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp về ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2022/QĐST- HNGĐ ngày 08/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm MT, xã TM, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã BS, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm MT, xã TM, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N trình bày như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng L kết hôn với nhau vào ngày 08/5/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Trọng L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trọng Tuấn A, sinh ngày 04/9/2014 và Nguyễn Trọng Tuấn T, sinh ngày 26/5/2017. Cả hai người con ở với chị tại Thôn T, xã B, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An từ đầu năm 2020 đến nay, anh Lương không chăm sóc, thăm nom con. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai người con và không yêu cầu anh Nguyễn Trọng L cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ: Chị Lê Thị Hồng N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến bị đơn anh Nguyễn Trọng L: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hîp lÖ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập lần thứ 01, lần thứ 02; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ 01, lần thứ 02; Quyết định đưa xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Trọng L nhưng anh kh«ng ®Õn Tßa ¸n lµm viÖc theo giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án .
Kết quả xác minh thì bố đẻ anh Nguyễn Trọng L là ông Nguyễn Trọng T cho biết: Anh Nguyễn Trọng L đã nhận được các văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt cho anh, biết về việc chị Lê Thị Hồng N xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Ý kiến anh Nguyễn Trọng L là đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con theo yêu cầu của chị Lê Thị Hồng N, anh Lương không có ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Trọng L.
Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng Tuấn A, sinh ngày 04/9/2014 và Nguyễn Trọng Tuấn T, sinh ngày 26/5/2017 cho chị Lê Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Trọng L.
Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng N và anh Nguyễn Trọng L là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tỉnh Nghệ An vào ngày 08/5/2014. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị Lê Thị Hồng N xin ly hôn thì anh Nguyễn Trọng L đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị Lê Thị Hồng N.
Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng N và anh Nguyễn Trọng L chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng N, xử cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng L là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 chung là Nguyễn Trọng Tuấn A, sinh ngày 04/9/2014 và Nguyễn Trọng Tuấn T, sinh ngày 26/5/2017. Chị Lê Thị Hồng N yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai người con và không yêu cầu anh Nguyễn Trọng L cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Trọng L không đến Tòa án làm việc, kết quả xác minh thì bố đẻ anh Nguyễn Trọng L là ông Nguyễn Trong T cho biết ý kiến anh Lương là đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của chị Lê Thị Hồng N. Xét thấy cả hai người con ở với chị Lê Thị Hồng N tại Thôn T, xã BS, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An từ đầu năm 2020 đến nay ổn định, anh L không chăm sóc, nuôi dưỡng do đó giao cả hai người con cho chị Lê Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Trọng L.
Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng Tuấn A, sinh ngày 04/9/2014 và Nguyễn Trọng Tuấn T, sinh ngày 26/5/2017 cho chị Lê Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Trọng L.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009236 ngày 27/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS huyện Thanh Chương; - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương; - UBND xã Bình Sơn,H. Anh Sơn; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TrÇn V¨n Dòng TrÇn V¨n Dòng |