vanban.org

Bản án 199/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cướp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 03 năm 03 tháng tù; tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù theo Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 03/8/2021, n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Quân - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BG
TỈNH BG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 199/2021/HS-ST
Ngày 22 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Th

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Biên.

2. Ông Nguyễn Văn Bảng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố BG.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố BG xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 203/2021/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2021/QĐXXST-HS ngày 10/11/2021 đối với bị cáo: Trần Văn Q, sinh năm 1996; Đăng ký Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn NN, xã QC, huyện VY, tỉnh BG; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021, Toà án nhân dân huyện VY, tỉnh BG xử phạt Trần Văn Q 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị VA, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn N, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn NN, xã QC, huyện VY, tỉnh BG.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

- Anh Giáp Chiến H, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn R, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG.

- Anh Lê Xuân Th, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Thôn C, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG.

Đại diện hợp pháp của anh Th: Bà Vũ Thị L – Bí thư đoàn xã D T

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số nhà 292 đường G H, tổ dân phố Giáp Sau, phường DK, thành phố BG, tỉnh BG.

- Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Tổ H S, thị trấn V, huyện LG, tỉnh BG.

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Q, sinh năm 1996, trú tại thôn NN, xã QC, huyện VY, tỉnh BG và chị Nguyễn Thị VA, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG có mối quan hệ tình cảm nam nữ từ đầu năm 2018. Khoảng đầu tháng 7 năm 2021, giữa Q và chị VA xảy ra mâu thuẫn, chị VA không liên lạc với Q nên Q cho rằng chị VA có quan hệ tình cảm với người khác. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 08/7/2021, Trần Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh, biển kiểm soát 98K1-022.87 đi từ khu công nghiệp QC, huyện VY, tỉnh BG đến Công ty TNHH điện tử Hoa Vũ Việt Nam, địa chỉ thôn Núm, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG là nơi làm việc của chị VA. Khi Q đi bộ lên tầng 02 xưởng sản xuất thì thấy chị VA đang cầm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus đứng nói chuyện với anh Giáp Chiến H, sinh năm 1998, trú tại thôn R, xã D T, thành phố BG, tỉnh BG, anh Lê Xuân Th, sinh năm 2004, trú tại thôn C, xã D T, thành phố BG và chị Dương Thị Thu Hằng, sinh năm 2004, trú tại thôn Kép, xã Hương Gián, huyện Yên Dũng, tỉnh BG nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên để kiểm tra tin nhắn trong máy. Q đi đến gần phía sau lưng chị VA rồi dùng tay trái ôm cổ chị VA, tay phải đấm 01 cái vào đỉnh đầu chị VA. Sau đó, Q nói “đi về, không làm gì hết” và dùng tay phải giằng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus chị VA đang cầm trên tay phải. Thấy vậy, chị VA hô hoán mọi người gọi bảo vệ để đòi lại điện thoại nhưng Q đã bỏ chạy ra ngoài. Chị VA chạy theo lối tắt ra cổng công ty thì gặp ông Hoàng Văn C, sinh năm 1954, trú tại tổ Hoành Sơn, thị trấn V, huyện LG, tỉnh BG là bảo vệ công ty Hoa Vũ nên đã hô “cướp, các chú giúp cháu”. Lúc này, Q từ trong xưởng sản xuất chạy ra thấy chị VA nên đã dùng tay phải đánh một cái vào vai bên trái của chị VA rồi chạy ra ngoài cổng. Thấy vậy, chị VA đuổi theo và giằng co với Q, yêu C Q trả điện thoại. Lúc này, anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, trú tại số nhà 292, đường G H, tổ dân phố Giáp Sau, phường DK, thành phố BG đi làm qua nghe thấy chị VA hô “cướp, cướp” nên đã đến can ngăn thì Q bỏ chạy về nhà, cất giấu điện thoại tại phòng ngủ. Sau khi bị cướp tài sản, chị VA nhờ anh T chở đến Công an xã D T, thành phố BG trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BG đã khám nghiện hiện trường, trích xuất dữ liệu điện tử từ camera an ninh của công ty Hoa Vũ, kết quả thu được 02 đoạn video ghi lại hình ảnh Q có hành vi cướp tài sản. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đưa chị Nguyễn Thị VA đến Trạm y tế xã D T kiểm tra dấu vết trên thân thể, kết quả như sau: “Vùng đỉnh đầu bên phải phát hiện một ổ bầm tím có kích thước (3x4)cm. Vùng bả vai trái có vết xước da đường kính 0,5cm. Ngoài ra không phát hiện thương tích gì khác”.

Ngày 03/8/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị Nguyễn Thị VA, anh Giáp Chiến H nhận dạng qua ảnh, kết quả chị VA, anh H đều nhận ra Trần Văn Q là người thực hiện hành vi đánh chị VA và cướp chiếc điện thoại Iphone 7 plus trên tay chị VA vào ngày 08/7/2021.

Ngày 03/8/2021, Trần Văn Q đến Công an thành phố BG đầu thú, giao nộp 01 chiếc quần sooc màu đen, mặt trước ông quần bên trái có chữ “adidas”; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu đỏ đen, mặt trong cổ áo có chữ “Shengong2”; 01 đôi dép lê màu xanh trắng, trên dép có dòng chữ “Superstar” là trang phục Q mặc khi thực hiện hành vi vào ngày 08/7/2021.

Cơ quan điều tra đã cho Trần Văn Q xem 02 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của công ty Hoa Vũ, kết quả Trần Văn Q khẳng định nam thanh niên mặc quần sooc màu đen, áo sơ mi dài tay trong video là Q (bút lục 158). Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị VA quan sát video trích xuất từ camera an ninh của xưởng sản cuất của công ty Hoa Vũ, kết quả chị VA khẳng định nam thanh niên mặc áo sơ mi dài tay màu đen, mặc quần sooc màu đen, đeo khẩu trang y tế màu xanh có hành vi đánh và giật điện thoại trên tay của chị VA là Trần Văn Q, nam thanh niên mặc áo phông cộc tay màu đen, đeo khẩu trang sáng màu đứng đối diện chị VA là anh Giáp Chiến H.

Cơ quan điều tra đã trưng C giám định nội dung 02 video thu giữ được, kết quả tại bản kết luận giám định số 1592/ KL-KTHS ngày 08/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG kết luận:

“1. Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video trong thiết bị L trữ USB nhãn hiệu Kingston, màu đen- bạc gửi giám định sau:

- Tên file “ch11_2021078071806_001.mp4; dung lượng 22.3MB; thời lượng 01 phút 55 giây.

- Tên file “ch14_2021078071806.mp4; dung lượng 21.3MB; thời lượng 01 phút 55 giây.

2. Trích xuất được 18 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong 02 video trog 02 file video gửi giám định.”.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979, trú tại thôn NN, xã QC, huyện VY, tỉnh BG là mẹ Trần Văn Q đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ, có ốp lưng bằng cao su màu đen do bà L tìm thấy trong phòng ngủ của Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị VA quan sát chiếc điện thoại di động nêu trên, kết quả Q và chị VA đều xác nhận đây là chiếc điện thoại di động Q đã cướp của chị VA vào ngày 08/7/2021.

Tại Kết luận định giá tài sản số 147A ngày 04/10/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ, số IMEI 356694083570309, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm tháng 7/2021 là 3.500.000 đồng. 01 ốp lưng điện thoại bằng cao su của diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu trắng- đen, đã qua sử dụng, có trị giá đến thời điểm tháng 7/2021 là 300.000 đồng. 01 sim điện thoại của nhà mạng Viettel, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm tháng 7/2021 là 50.000 đồng.”.

Đối với việc Trần Văn Q có hành vi đánh gây thương tích cho chị VA, ngày 28/7/2021, Cơ quan điều tra đã trưng C giám định thương tích nhưng chị VA từ chối giám định thương tích.

Về xử lý vật chứng: Ngày 13/10/2021, Cơ quan điều tra Công an thành phố BG đã trả lại chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, ốp điện thoại và sim điện thoại cho chị VA (bút lục 118). Đến nay, chị VA không yêu C bồi thường gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn Q.

Đối với 01 chiếc quần sooc màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ “adidas”; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu đỏ đen, mặt trong cổ áo có chữ “Shengong2”; 01 đôi dép lê màu xanh trắng, trên dép có dòng chữ “Superstar” được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố BG để phục vụ việc xét xử, các vật chứng còn lại được đính kèm hồ sơ vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Q đã khai nhận hành vi như nêu trên.

Tại Cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 03/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà L xác nhận lời trình bày của bị cáo và khai đã giao nộp chiếc điện thoại mà bị cáo lấy của của chị VA giao cho cơ quan điều tra. Bị hại vắng mặt, nhưng có lời khai trong hồ sơ với nội dung như nêu trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cướp tài sản”

2. Hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù theo Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 03/8/2021, nhưng được trừ ngày tạm giữ theo Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG.

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần sooc màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ “adidas”; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu đỏ đen, mặt trong cổ áo có chữ “Shengong2”; 01 đôi dép lê màu xanh trắng, trên dép có dòng chữ “Superstar”

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố BG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tuy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử vắng mặt những người này.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 08/7/2021 tại tầng 2 xưởng sản xuất của Công ty TNHH điện tử Hoa Vũ Việt Nam, địa chỉ thôn Núm, xã D T, thành phố BG, Trần Văn Q có hành vi dùng tay không đấm 01 cái vào đỉnh đầu chị Nguyễn Thị VA rồi dùng tay phải cướp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu di động Iphone 7 plus có tổng trị giá 3.850.000 đồng chị VA đang cầm trên tay phải.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, việc bị cáo dùng vũ lực đánh và cướp tài sản của bị hại ngay tại công ty nơi bị hại làm việc không những làm nguy hiểm đến sức khỏe của bị hại, mà còn trực tiếp xâm phạm đến quyền sở H tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh, bị dư luận và quần chúng nhân dân lên án. Bị cáo chỉ vì mục đích cá nhân, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, trước khi bị xét xử hôm nay bị cáo đã bị xét xử theo bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Toà án nhân dân huyện VY, tỉnh BG về tội “Đánh bạc”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và bị cáo có thời gian phục vụ trong Q đội nhân dân Việt Nam nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc trường hợp hộ nghèo hay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên cần áp dụng khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bằng tiền, sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt: Do Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG xử phạt bị cáo 09 tháng tù đã có hiệu lực pháp luật, nên cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt trong bản án này đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 01 chiếc quần sooc màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ “adidas”; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu đỏ đen, mặt trong cổ áo có chữ “Shengong2”; 01 đôi dép lê màu xanh trắng, trên dép có dòng chữ “Superstar”, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu C gì nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 và khoản 6 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 03 năm 03 tháng tù; tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù theo Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 03/8/2021, nhưng được trừ ngày tạm giữ từ ngày 25/5/2021 đến ngày 31/5/2021 theo Bản án số 169/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh BG.

- Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Q 10.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần sooc màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ “adidas”; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu đỏ đen, mặt trong cổ áo có chữ “Shengong2”; 01 đôi dép lê màu xanh trắng, trên dép có dòng chữ “Superstar”.

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ